LINK TẢI LUẬN VĂN MIỄN PHÍ CHO AE KET-NOI
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Trung Quốc và Nhật Bản là hai quốc gia có nền văn hóa lớn, đặc biệt là thơ ca phát triển từ rất sớm, với hai tác giả tiêu biểu là Lý Bạch và Basho cùng với hai thể thơ tứ tuyệt và thơ Haiku là đỉnh cao của thi ca nhân loại.
Thơ Đường là tinh hoa của văn học Trung Quốc, là thành quả rực rỡ của một thời đại văn chương có một không hai không chỉ với Trung Hoa mà với toàn thế giới. Còn thơ haiku cũng được xem là viên ngọc quý của xứ sở hoa anh đào.
Cùng viết về đề tài thiên nhiên nhưng giữa hai nhà thơ cũng có nhiều điểm tương đồng và khác biệt. Haiku là một thể thơ rất ngắn nên chúng tui chọn thể thơ tứ tuyệt của Lý Bạch để trước hết so sánh sự tương đồng về mặt thể loại trong hai loại thơ này.
Sau cùng là đối chiếu về góc độ thiên nhiên trong hai thể thơ này của hai nhà thơ để thấy sự giống nhau và khác nhau. Từ đó, ta sẽ hiểu hơn về vẻ đẹp thơ ca của hai đất nước này và có thái độ trân trọng đối với những giá trị tinh thần cao quý của nhân loại. Đồng thời, đóng góp vào kho tàng lí luận văn học một cách nhìn, một cách cảm nhận, khám phá mới về thơ ca. Chính vì lẽ đó mà chúng tui chọn đề tài : Thiên nhiên trong thơ tứ tuyệt của Lý Bạch và haiku của Basho để nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu:
Nền văn học Nhật Bản, Trung Quốc nói chung, thơ haiku và thơ tứ tuyệt nói riêng cũng từ khá lâu rồi được nhiều dịch giả, giới nghiên cứu và bạn đọc trên thế giới quan tâm, trong đó có Việt Nam.
Chúng tui với những điều kiện có thể cũng đã tiếp thu và tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của các tác giả như Nguyễn Khắc Phi – Trương Chính, Nguyễn Bích Thuận, Trần Trung Hỷ, Nhật Chiêu, Nguyễn Sĩ Đại,…và một số bài viết khác có liên quan trên trang web: http//google.com.vn.
Tài liệu thứ nhất mà chúng tui tiếp cận là “Văn học Trung Quốc, tập một” của Nguyễn Khắc Phi và Trương Chính. Ở tài liệu này, hai tác giả có đề cập đến Lý Bạch nhưng chỉ là về thân thế, sự nghiệp và nội dung tư tưởng trong thơ ông.
Cuốn “Thơ Đường” của Nguyễn Bích Thuận giới thiệu, phân tích một số bài thơ của Lý Bạch và nêu lên tính chất lãng mạn trong thơ Lý Bạch.
Cuốn “Thơ sơn thủy cổ trung đại Trung Quốc” của Trần Trung Hỷ bàn về giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của thơ sơn thủy.
Cuốn “Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868” của Nhật Chiêu nói về con đường đến với thơ ca của Basho và một số vẻ đẹp trong thơ haiku của ông.
Cuốn “Nhật Bản trong chiếc gương soi” của Nhật Chiêu có nội dung cơ bản gần như tài liệu trên đã được đề cập (Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868).
Và tài liệu “Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường” của Nguyễn Sĩ Đại nói một cách khái quát về cấu trúc của thơ tứ tuyệt, biện pháp ngôn ngữ thơ tứ tuyệt…
Qua một số tài liệu chính kể trên, chúng tui nhận thấy rằng thiên nhiên trong thơ Lý Bạch và Basho đều được tác giả này hay tác giả khác nói tới nhưng chỉ là cái nhìn khái quát, chưa có sự khám phá sâu sắc và nhất là chưa so sánh giữa hai nhà thơ này.
Chính vì vậy, nhóm chúng tui qua việc tiếp thu các công trình nghiên cứu của các tác giả này, cộng với sự tìm tòi, nghiên cứu sẽ đưa ra được những điểm giống và khác nhau về mặt nội dung cũng như nghệ thuật trên cơ sở so sánh thiên nhiên trong thơ tứ tuyệt của Lý Bạch và haiku của Basho.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
a. Mục đích:
Giới thiệu đến độc giả một hướng nhìn, một cách tiếp cận, khám phá mới về thơ Tứ tuyệt đời Đường và thơ Haiku.
Khám phá cái hay, cái đẹp của thơ ca Trung Quốc và Nhật Bản thông qua hai nhà thơ tiêu biểu là Lý Bạch và Basho.
Giúp người đọc nhận ra sự khác biệt trong cách miêu tả thiên nhiên của Lý Bạch và Basho.
Khơi gợi lòng yêu mến thơ ca của mọi người đối với thơ Đường (đặc biệt là thơ Tứ tuyệt) và Haiku qua mối giao cảm giữa con người và thiên nhiên.
b. Nhiệm vụ:
Tìm ra điểm tương đồng và khác biệt về thiên nhiên trong thơ Tứ tuyệt của Lý Bạch và Haiku của Basho.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
a. Đối tượng:
Thiên nhiên trong thơ tứ tuyệt của Lý Bạch và haiku của Basho.
b. Phạm vi:
Thơ viết về thiên nhiên của Lý Bạch và Basho, đối với thơ Lý Bạch chúng tui chỉ khảo sát thơ tứ tuyệt.
Xét trên bình diện thiên nhiên dưới nhiều góc độ.
5. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu:
Nếu đề tài nghiên cứu thành côngchúng tui sẽ:
- Đóng góp vào kho tàng lí luận văn học hướng nhìn, một cách khám phá mới về nội dung cũng như hình thức của thơ ca.
- Giúp hiểu sâu hơn về thơ Đường (thơ Tứ Tuyệt) và thơ Haiku.
- Mở rộng và trải lòng mình với thế giới thế giới thiên nhiên.
- Vận dụng vẻ đẹp tinh túy của thơ Đường (thơ Tứ Tuyệt) và thơ Haiku. trong quá trình sáng tác văn học của bản thân
- Biết tìm hiểu và khai thác giá trị của một bài thơ Đường luật, thơ Haiku.
- Là tài liệu tham khảo cần thiết cho việc giảng dạy trong chuơng trình Ngữ văn phần văn học Trung Quốc.
- Ngòai ra còn là định hướng gợi mở đối với việc tìm hiểu và nghiên cứu…
6. Phương pháp nghiên cứu:
-Tập hợp tài liệu
- Phân loại
- Quan sát - nhận diện
- Khái quát hóa vấn đề
- Tóm tắt khoa học
- So sánh - đối chiếu
- Phân tích và tổng hợp
7. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm có 3 phần:
Chương 1: Con đường thơ của Lý Bạch và Basho.
Chương 2: Sự gặp gỡ giữa thơ thiên nhiên của Lý Bạch và thơ thiên nhiên của Basho.
Chương 3: Những nét khác biệt trong việc thể hiện thiên nhiên trong thơ Lý Bạch và Basho.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CON ĐƯỜNG THƠ CỦA LÝ BẠCH VÀ BASHO
1. Cơ sở để so sánh Lý Bạch và Basho:
1.1. Sự tương cận giữa hai nền văn hóa, hai nền thơ ca Nhật Bản và Trung Quốc:
Trong ba nền văn hóa lớn của phương Đông, nếu Ấn Độ được coi là duy linh, Trung Quốc thực tiễn, thì Nhật Bản lại rất duy mĩ, duy tình.
Nếu Trung Quốc được biết đến như một trong những cái nôi của văn minh nhân loại thì Nhật Bản được biết đến bởi trang phục truyền thống là Kimono và hoa Anh Đào. Nếu người Trung Quốc tự hào rằng họ có Vạn lí trường thành dài vô tận thì người dân Nhật cũng biết cúi mình trước ngọn núi Phú Sĩ cao sừng sững.
Trung Quốc là một quốc gia có bề dày lịch sử và văn hóa. Nền văn hóa ấy rất phong phú và đa dạng. Về triết học có chư tử bách gia, trong đó đáng chú ý nhất là Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia. Về nghệ thuật có thư pháp (nghệ thuật viết chữ Hán), hội họa, kiến trúc, điêu khắc…
Còn Nhật Bản là một quần đảo xa xôi nơi đại lục, với các đảo chính như Hokkaido, Shikoku, Kyushu,…nơi lưu giữ nhiều danh lam thắng cảnh đã khiến người ngoại quốc luôn nhớ đến Nhật Bản như sông Shinano, hồ Biwa,…Những vẻ đẹp lộng lẫy mà huyền ảo ấy đã hun đúc nên tâm hồn bao thế hệ văn nhân.
Về văn hóa, có thể nói rằng Nhật Bản hay Trung Quốc đều giữ một vị trí cho riêng mình nhưng điều mà chúng ta có thể thấy là hai quốc gia này mang trong mình nhiều nét đẹp văn hóa từ xa xưa và có sức ảnh hưởng lớn đến nền văn hóa chung của nhân loại.
Ở khía cạnh văn học, Trung Quốc có thơ, từ, tiểu thuyết, hý khúc…Có thể thấy triết học cổ đại Trung Quốc là thành tựu tiêu biểu của văn hóa Trung Quốc, nhưng văn học lại là biểu hiện rực rỡ nhất mang tính dân tộc độc đáo của văn hóa Trung Quốc.
Văn chương Nhật tuy không có cơ sở triết lí như văn học Trung Quốc có Bách gia chư tử, nhưng đó là một nền văn chương của tình cảm và thiên nhiên. Người ta biết đến văn chương Nhật với các thể loại như Tanka, Haiku, kịch Nô và các loại văn xuôi đầy chất thơ.
Cho đến ngày nay, sức ảnh hưởng lớn của Trung Quốc đến văn chương nhân loại vẫn là thơ Đường và Nhật Bản là thơ haiku. Và thay mặt tiêu biểu của nó là Lý Bạch và Basho.
Như vậy, ta có thể thấy rằng văn hóa và văn chương của Trung Quốc và Nhật Bản có nhiều nét rất gần gũi, đó là cơ sở để ta so sánh giữa hai nhà thơ Lý Bạch và Basho.
1.2. Sự tương ngộ giữa hai tâm hồn thơ ca:
Sự tương đồng giữa hai nền văn hóa TrungQuốc và Nhật Bản một phần nào đó đã làm nên nét tương cận trong tính cách của Lý Bạch và Basho. Cả hai nhà thơ đều có một tâm hồn cao đẹp, hướng về vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống con người. Song, do sống ở hai thời đại khác nhau đã làm nên nét khác biệt trong tính cách, tâm hồn của hai nhà thơ. Lý Bạch là một con người có tâm hồn phóng khoáng,cởi mở, còn Basho thì dạt dào, sâu lắng. Ta có thể bắt gặp điều đó qua nội dung và tư tưởng thơ ca của Lý Bạch và Basho.
1.2.1. Tâm hồn phóng khoáng của Lý Bạch:
Có thể nói rằng từ lúc thiếu thời cho đến lúc về già, trước sau Lý Bạch vẫn giữ vẹn một tâm hồn phóng khoáng, không thích bị ràng buộc. Điều đó ta có thể thấy qua thơ ca của ông và cả trong cách sống của ông nữa.
Là một con người có tâm hồn phóng khoáng nên ông thích “rày đây mai đó” chứ không thích ngồi yên một chỗ. Năm 16 tuổi, ông cùng Đông Nham Tử đi ẩn tại phía nam núi Dân. Lúc 20 tuổi bắt đầu sống cuộc đời hiệp khách.
Lý Bạch đi du lịch khắp nơi : viếng Thành Đô, thăm núi Nga Mi, Thanh Thành, rong chơi hồ Động Đình, lưu vực Tương giang, Hán giang, qua Giang Hạ đến Kim Lăng, Dương Châu, Nhữ Hải, vào Ngô Việt…Năm 726, ông đến An Lục (nay thuộc Hồ Bắc), thăm đầm Vân Mộng. Tại đây ông cưới vợ là cháu gái quan tể tướng hồi hưu Hứa Ngữ Sư, rồi tạm dừng chân phiêu lãng và bắt đầu nổi tiếng văn chương giữa tuổi 30.
Nhưng không ở yên được lâu, Lý Bạch đến Tương Dương, làm quen với nhà thơ Mạnh Hạo Nhiên, người lớn hơn ông 10 tuổi. Từ đó ông tha thiết muốn được hoạt động “kinh bang tế thế”. Lý tưởng của ông là “làm rõ lời bàn của Quản Trọng, Án Anh, tính mưu chước của đế vương, đem tài năng, trí tuệ nguyện giúp nhà vua để cho thiên hạ yên ổn, bốn bể thanh bình” (Đại Thọ sơn đáp Mạnh thiếu phủ di văn). Nhưng ông thường tự phụ, ví mình với Lã Vọng, Trương Lương, Gia Cát Lượng, thái độ “không chịu khom mình”, “không cầu cạnh ai”, “giao thiệp ngang hàng với chư hầu” nên ông không được giới chính trị hoan nghênh. Năm 741, ông đưa gia quyến đến ở Duyện Châu (Sơn Đông).
Năm đầu Thiên Bảo, Lý Bạch rời nhà xuống miền nam, đi chơi Cối Kê (Chiết Giang), ngụ tại Thiểm Trung với đạo sĩ Ngô Quân. Ngô Quân được vua triệu về kinh, đem Lý Bạch theo. ). Hạ tiến cử ông, vua Huyền Tông vời vào bệ kiến. Vua mến tài, cho ông vào điện Kim Loan, phụ trách việc thảo thư từ.
Do Drive thay đổi chính sách, nên một số link cũ yêu cầu duyệt download.
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm vào Link, đợi vài giây sau đó bấm Get Website để tải:
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Trung Quốc và Nhật Bản là hai quốc gia có nền văn hóa lớn, đặc biệt là thơ ca phát triển từ rất sớm, với hai tác giả tiêu biểu là Lý Bạch và Basho cùng với hai thể thơ tứ tuyệt và thơ Haiku là đỉnh cao của thi ca nhân loại.
Thơ Đường là tinh hoa của văn học Trung Quốc, là thành quả rực rỡ của một thời đại văn chương có một không hai không chỉ với Trung Hoa mà với toàn thế giới. Còn thơ haiku cũng được xem là viên ngọc quý của xứ sở hoa anh đào.
Cùng viết về đề tài thiên nhiên nhưng giữa hai nhà thơ cũng có nhiều điểm tương đồng và khác biệt. Haiku là một thể thơ rất ngắn nên chúng tui chọn thể thơ tứ tuyệt của Lý Bạch để trước hết so sánh sự tương đồng về mặt thể loại trong hai loại thơ này.
Sau cùng là đối chiếu về góc độ thiên nhiên trong hai thể thơ này của hai nhà thơ để thấy sự giống nhau và khác nhau. Từ đó, ta sẽ hiểu hơn về vẻ đẹp thơ ca của hai đất nước này và có thái độ trân trọng đối với những giá trị tinh thần cao quý của nhân loại. Đồng thời, đóng góp vào kho tàng lí luận văn học một cách nhìn, một cách cảm nhận, khám phá mới về thơ ca. Chính vì lẽ đó mà chúng tui chọn đề tài : Thiên nhiên trong thơ tứ tuyệt của Lý Bạch và haiku của Basho để nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu:
Nền văn học Nhật Bản, Trung Quốc nói chung, thơ haiku và thơ tứ tuyệt nói riêng cũng từ khá lâu rồi được nhiều dịch giả, giới nghiên cứu và bạn đọc trên thế giới quan tâm, trong đó có Việt Nam.
Chúng tui với những điều kiện có thể cũng đã tiếp thu và tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của các tác giả như Nguyễn Khắc Phi – Trương Chính, Nguyễn Bích Thuận, Trần Trung Hỷ, Nhật Chiêu, Nguyễn Sĩ Đại,…và một số bài viết khác có liên quan trên trang web: http//google.com.vn.
Tài liệu thứ nhất mà chúng tui tiếp cận là “Văn học Trung Quốc, tập một” của Nguyễn Khắc Phi và Trương Chính. Ở tài liệu này, hai tác giả có đề cập đến Lý Bạch nhưng chỉ là về thân thế, sự nghiệp và nội dung tư tưởng trong thơ ông.
Cuốn “Thơ Đường” của Nguyễn Bích Thuận giới thiệu, phân tích một số bài thơ của Lý Bạch và nêu lên tính chất lãng mạn trong thơ Lý Bạch.
Cuốn “Thơ sơn thủy cổ trung đại Trung Quốc” của Trần Trung Hỷ bàn về giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của thơ sơn thủy.
Cuốn “Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868” của Nhật Chiêu nói về con đường đến với thơ ca của Basho và một số vẻ đẹp trong thơ haiku của ông.
Cuốn “Nhật Bản trong chiếc gương soi” của Nhật Chiêu có nội dung cơ bản gần như tài liệu trên đã được đề cập (Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868).
Và tài liệu “Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường” của Nguyễn Sĩ Đại nói một cách khái quát về cấu trúc của thơ tứ tuyệt, biện pháp ngôn ngữ thơ tứ tuyệt…
Qua một số tài liệu chính kể trên, chúng tui nhận thấy rằng thiên nhiên trong thơ Lý Bạch và Basho đều được tác giả này hay tác giả khác nói tới nhưng chỉ là cái nhìn khái quát, chưa có sự khám phá sâu sắc và nhất là chưa so sánh giữa hai nhà thơ này.
Chính vì vậy, nhóm chúng tui qua việc tiếp thu các công trình nghiên cứu của các tác giả này, cộng với sự tìm tòi, nghiên cứu sẽ đưa ra được những điểm giống và khác nhau về mặt nội dung cũng như nghệ thuật trên cơ sở so sánh thiên nhiên trong thơ tứ tuyệt của Lý Bạch và haiku của Basho.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
a. Mục đích:
Giới thiệu đến độc giả một hướng nhìn, một cách tiếp cận, khám phá mới về thơ Tứ tuyệt đời Đường và thơ Haiku.
Khám phá cái hay, cái đẹp của thơ ca Trung Quốc và Nhật Bản thông qua hai nhà thơ tiêu biểu là Lý Bạch và Basho.
Giúp người đọc nhận ra sự khác biệt trong cách miêu tả thiên nhiên của Lý Bạch và Basho.
Khơi gợi lòng yêu mến thơ ca của mọi người đối với thơ Đường (đặc biệt là thơ Tứ tuyệt) và Haiku qua mối giao cảm giữa con người và thiên nhiên.
b. Nhiệm vụ:
Tìm ra điểm tương đồng và khác biệt về thiên nhiên trong thơ Tứ tuyệt của Lý Bạch và Haiku của Basho.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
a. Đối tượng:
Thiên nhiên trong thơ tứ tuyệt của Lý Bạch và haiku của Basho.
b. Phạm vi:
Thơ viết về thiên nhiên của Lý Bạch và Basho, đối với thơ Lý Bạch chúng tui chỉ khảo sát thơ tứ tuyệt.
Xét trên bình diện thiên nhiên dưới nhiều góc độ.
5. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu:
Nếu đề tài nghiên cứu thành côngchúng tui sẽ:
- Đóng góp vào kho tàng lí luận văn học hướng nhìn, một cách khám phá mới về nội dung cũng như hình thức của thơ ca.
- Giúp hiểu sâu hơn về thơ Đường (thơ Tứ Tuyệt) và thơ Haiku.
- Mở rộng và trải lòng mình với thế giới thế giới thiên nhiên.
- Vận dụng vẻ đẹp tinh túy của thơ Đường (thơ Tứ Tuyệt) và thơ Haiku. trong quá trình sáng tác văn học của bản thân
- Biết tìm hiểu và khai thác giá trị của một bài thơ Đường luật, thơ Haiku.
- Là tài liệu tham khảo cần thiết cho việc giảng dạy trong chuơng trình Ngữ văn phần văn học Trung Quốc.
- Ngòai ra còn là định hướng gợi mở đối với việc tìm hiểu và nghiên cứu…
6. Phương pháp nghiên cứu:
-Tập hợp tài liệu
- Phân loại
- Quan sát - nhận diện
- Khái quát hóa vấn đề
- Tóm tắt khoa học
- So sánh - đối chiếu
- Phân tích và tổng hợp
7. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm có 3 phần:
Chương 1: Con đường thơ của Lý Bạch và Basho.
Chương 2: Sự gặp gỡ giữa thơ thiên nhiên của Lý Bạch và thơ thiên nhiên của Basho.
Chương 3: Những nét khác biệt trong việc thể hiện thiên nhiên trong thơ Lý Bạch và Basho.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CON ĐƯỜNG THƠ CỦA LÝ BẠCH VÀ BASHO
1. Cơ sở để so sánh Lý Bạch và Basho:
1.1. Sự tương cận giữa hai nền văn hóa, hai nền thơ ca Nhật Bản và Trung Quốc:
Trong ba nền văn hóa lớn của phương Đông, nếu Ấn Độ được coi là duy linh, Trung Quốc thực tiễn, thì Nhật Bản lại rất duy mĩ, duy tình.
Nếu Trung Quốc được biết đến như một trong những cái nôi của văn minh nhân loại thì Nhật Bản được biết đến bởi trang phục truyền thống là Kimono và hoa Anh Đào. Nếu người Trung Quốc tự hào rằng họ có Vạn lí trường thành dài vô tận thì người dân Nhật cũng biết cúi mình trước ngọn núi Phú Sĩ cao sừng sững.
Trung Quốc là một quốc gia có bề dày lịch sử và văn hóa. Nền văn hóa ấy rất phong phú và đa dạng. Về triết học có chư tử bách gia, trong đó đáng chú ý nhất là Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia. Về nghệ thuật có thư pháp (nghệ thuật viết chữ Hán), hội họa, kiến trúc, điêu khắc…
Còn Nhật Bản là một quần đảo xa xôi nơi đại lục, với các đảo chính như Hokkaido, Shikoku, Kyushu,…nơi lưu giữ nhiều danh lam thắng cảnh đã khiến người ngoại quốc luôn nhớ đến Nhật Bản như sông Shinano, hồ Biwa,…Những vẻ đẹp lộng lẫy mà huyền ảo ấy đã hun đúc nên tâm hồn bao thế hệ văn nhân.
Về văn hóa, có thể nói rằng Nhật Bản hay Trung Quốc đều giữ một vị trí cho riêng mình nhưng điều mà chúng ta có thể thấy là hai quốc gia này mang trong mình nhiều nét đẹp văn hóa từ xa xưa và có sức ảnh hưởng lớn đến nền văn hóa chung của nhân loại.
Ở khía cạnh văn học, Trung Quốc có thơ, từ, tiểu thuyết, hý khúc…Có thể thấy triết học cổ đại Trung Quốc là thành tựu tiêu biểu của văn hóa Trung Quốc, nhưng văn học lại là biểu hiện rực rỡ nhất mang tính dân tộc độc đáo của văn hóa Trung Quốc.
Văn chương Nhật tuy không có cơ sở triết lí như văn học Trung Quốc có Bách gia chư tử, nhưng đó là một nền văn chương của tình cảm và thiên nhiên. Người ta biết đến văn chương Nhật với các thể loại như Tanka, Haiku, kịch Nô và các loại văn xuôi đầy chất thơ.
Cho đến ngày nay, sức ảnh hưởng lớn của Trung Quốc đến văn chương nhân loại vẫn là thơ Đường và Nhật Bản là thơ haiku. Và thay mặt tiêu biểu của nó là Lý Bạch và Basho.
Như vậy, ta có thể thấy rằng văn hóa và văn chương của Trung Quốc và Nhật Bản có nhiều nét rất gần gũi, đó là cơ sở để ta so sánh giữa hai nhà thơ Lý Bạch và Basho.
1.2. Sự tương ngộ giữa hai tâm hồn thơ ca:
Sự tương đồng giữa hai nền văn hóa TrungQuốc và Nhật Bản một phần nào đó đã làm nên nét tương cận trong tính cách của Lý Bạch và Basho. Cả hai nhà thơ đều có một tâm hồn cao đẹp, hướng về vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống con người. Song, do sống ở hai thời đại khác nhau đã làm nên nét khác biệt trong tính cách, tâm hồn của hai nhà thơ. Lý Bạch là một con người có tâm hồn phóng khoáng,cởi mở, còn Basho thì dạt dào, sâu lắng. Ta có thể bắt gặp điều đó qua nội dung và tư tưởng thơ ca của Lý Bạch và Basho.
1.2.1. Tâm hồn phóng khoáng của Lý Bạch:
Có thể nói rằng từ lúc thiếu thời cho đến lúc về già, trước sau Lý Bạch vẫn giữ vẹn một tâm hồn phóng khoáng, không thích bị ràng buộc. Điều đó ta có thể thấy qua thơ ca của ông và cả trong cách sống của ông nữa.
Là một con người có tâm hồn phóng khoáng nên ông thích “rày đây mai đó” chứ không thích ngồi yên một chỗ. Năm 16 tuổi, ông cùng Đông Nham Tử đi ẩn tại phía nam núi Dân. Lúc 20 tuổi bắt đầu sống cuộc đời hiệp khách.
Lý Bạch đi du lịch khắp nơi : viếng Thành Đô, thăm núi Nga Mi, Thanh Thành, rong chơi hồ Động Đình, lưu vực Tương giang, Hán giang, qua Giang Hạ đến Kim Lăng, Dương Châu, Nhữ Hải, vào Ngô Việt…Năm 726, ông đến An Lục (nay thuộc Hồ Bắc), thăm đầm Vân Mộng. Tại đây ông cưới vợ là cháu gái quan tể tướng hồi hưu Hứa Ngữ Sư, rồi tạm dừng chân phiêu lãng và bắt đầu nổi tiếng văn chương giữa tuổi 30.
Nhưng không ở yên được lâu, Lý Bạch đến Tương Dương, làm quen với nhà thơ Mạnh Hạo Nhiên, người lớn hơn ông 10 tuổi. Từ đó ông tha thiết muốn được hoạt động “kinh bang tế thế”. Lý tưởng của ông là “làm rõ lời bàn của Quản Trọng, Án Anh, tính mưu chước của đế vương, đem tài năng, trí tuệ nguyện giúp nhà vua để cho thiên hạ yên ổn, bốn bể thanh bình” (Đại Thọ sơn đáp Mạnh thiếu phủ di văn). Nhưng ông thường tự phụ, ví mình với Lã Vọng, Trương Lương, Gia Cát Lượng, thái độ “không chịu khom mình”, “không cầu cạnh ai”, “giao thiệp ngang hàng với chư hầu” nên ông không được giới chính trị hoan nghênh. Năm 741, ông đưa gia quyến đến ở Duyện Châu (Sơn Đông).
Năm đầu Thiên Bảo, Lý Bạch rời nhà xuống miền nam, đi chơi Cối Kê (Chiết Giang), ngụ tại Thiểm Trung với đạo sĩ Ngô Quân. Ngô Quân được vua triệu về kinh, đem Lý Bạch theo. ). Hạ tiến cử ông, vua Huyền Tông vời vào bệ kiến. Vua mến tài, cho ông vào điện Kim Loan, phụ trách việc thảo thư từ.
Do Drive thay đổi chính sách, nên một số link cũ yêu cầu duyệt download.
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm vào Link, đợi vài giây sau đó bấm Get Website để tải:
You must be registered for see links