ducky_duck3108
New Member
Download miễn phí Chuyên đề Các giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục đại học 2001 - 2005 ở Việt Nam
MỤC LỤC
Lời nói đầu 1
Chương I - Kế hoạch phát triển Giáo dục Đại học trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. 3
I. Mối quan hệ giữa phát triển giáo dục Đại học và phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. 3
1. Giáo dục Đại học và đặc điểm của giáo dục Đại học. 3
2. Mối quan hệ giữa phát triển giáo dục Đại học và phát triển kinh tế - xã hội. 6
2.1.1. Tăng trưởng kinh tế. 6
2.1.2. Mối quan hệ giữa giáo dục đại học và tăng trưởng kinh tế. 6
II. giáo dục Đại học theo kế hoạch. 9
1. Ý nghĩa của kế hoạch phát triển giáo dục Đại học. 9
2. Nguyên tắc đối với việc xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục Đại học. 11
3. Nội dung của kế hoạch phát triển giáo dục. 11
3.1.1. Chỉ tiêu về mặt số lượng: 12
3.1.2. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng. 14
3.2.1. Cân đối giữa mục tiêu đào tạo và các yếu tố nguồn lực. 16
3.2.2. Cân đối trong cơ cấu và loại hình đào tạo. 18
3.2.3. Cân đối giữa giáo dục công lập và giáo dục ngoài công lập. 19
4. Các nhân tố tác động đến việc thực hiện kế hoạch. 19
III. Kinh nghiệm của trung quốc về phát triển giáo dục Đại học và những bài học. 23
1. Kinh nghiệm của Trung Quốc. 23
2. Bài học kinh nghiệm. 25
Chương II - Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch 27
giai đoạn 2001 - 2005 ( 2 năm đầu ). 27
1. Quan điểm. 27
2. Mục tiêu. 27
II. Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giáo dục đại học 2 năm đầu thời kỳ kế hoạch 32
1. Tình hình về quy mô đào tạo. 32
2. Tình trạng về cơ cấu đào tạo. 37
3. Thực trạng về mạng lưới các trường Đại học. 41
4. Thực trạng về đầu tư tài chính cho giáo dục Đại học. 44
III. đánh giá chung tình hình thực hiện kế hoạch 2 năm đầu. 47
1. Thành tựu. 47
1.3. Các điều kiện để đảm bảo chất lượng giáo dục (bao gồm đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất kĩ thuật, trang thiết bị dạy học.) không ngừng được củng cố, tăng cường và có nhiều chuyển biến tích cực. 49
2. Tồn tại yếu kém và nguyên nhân. 52
2.1. Chất lượng và hiệu quả còn thấp so với yêu cầu của đất nước, chưa tiếp cận được với trình độ và kết quả giáo dục ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới. 52
Chương III: Các giải pháp thực hiện kế hoạch giáo dục 56
2001 - 2005 (áp dụng cho 3 năm cuối). 56
I. Mục tiêu kế hoạch 2001 - 2005 cho 3 năm cuối. 56
1. Mục tiêu chung. 56
2. Nhiệm vụ cụ thể: 56
3. Các chỉ tiêu: 56
II. Những yếu tố liên quan đến việc thực hiện kế hoạch 2001 - 2005. 57
1. Tăng trưởng kinh tế. 57
2. Công tác giám sát và đánh giá tình hình thực hiện. 58
3. Các chính sách của Nhà nước. 59
III. Một số giải pháp chủ yếu phát triển giáo dục Đại học giai đoạn 2001 - 2005 ở Việt Nam. 59
1. Đa dạng hoá các loại hình đào tạo. 59
2. Thực hiện tốt giải pháp đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư tài chính cho giáo dục Đại học. 63
3. Giải pháp về cơ chế quản lý của Nhà nước. 69
4. Một số kiến nghị. 73
Kết luận 76
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-03-23-chuyen_de_cac_giai_phap_chu_yeu_thuc_hien_ke_hoach.LNebV3ghCB.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-64813/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
h viên. Qua đó trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục Đại học.Bảng 8: Quy mô giảng viên và cán bộ công nhân viên ở Đại học
Năm học
Tổng số giảng viên
Tổng số sinh viên
Tổng số cán bộ công nhân viên
1998 - 1999
28.035
798.243
42.757
1999 - 2000
30.309
865.975
51.320
2000 - 2001
32.205
918.228
51.487
2001 - 2002
35.938
974.119
55.887
Qua số liệu bảng 8 ta thấy: Quy mô lực lượng cán bộ giảng dạy cấp Đại học và Cao đẳng ở nước ta tăng lên rất nhanh. Năm học 2000-2001 là 32.205 giảng viên so
với năm học 1999 - 2000 tăng 1.896 người tăng 6,26%; năm học 2001- 2002 tăng so với năm 2000 - 2001 là 3.733 giảng viên. Mặc dù vậy tốc độ tăng quy mô này vẫn còn chậm tương đối so với tốc độ tăng quy mô sinh viên. Vẽ biểu đồ cột so sánh giảng viên và sinh viên.
Về cơ cấu trình độ giảng viên đã được cải thiện rõ rệt so với những năm trước. Bằng việc bồi dưỡng cán bộ giảng dạy trong và ngoài nước, tạo ra cơ chế chính sách, chế độ khuyến khích làm động lực cho cán bộ giảng viên nên xét về cơ cấu, trình độ tỷ lệ giảng viên Đại học có học vị tiến sỹ và thạc sỹ có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên tỷ lệ giảng viên Đại học là tiến sỹ và tiến sỹ khoa học tăng chậm, tỷlệ giảng là thạc sỹ tăng nhanh. Mặc dù vậy số giảng viên có trình độ Đại học vẫn chiếm tới gần 50%. Như vậy chúng ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng tốt nghiệp Đại học dạy Đại học (gọi là tình trạng cơm chấm cơm).
Trong khi đó đội ngũ giảng viên có trình độ lại không phân bố đồng đều giữa các trường, khu vực, giữa các ngành nghề. Hiện nay nhóm giảng viên có trình độ trên Đại học tập trung chủ yếu tại Hà Nội chiếm 65,9% cả nước; Thành phố Hồ Chí Minh là 16,3%; những tỉnh thuộc khu vực miền núi, đồng bằng ven biển thiếu cán bộ có học hàm, học vị ở mức độ nghiêm trọng. Đây chính là trở ngại lớn cho việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học ở nước ta hiện nay.
Bảng 9: Cơ cấu trình độ giảng viên Đại học
Năm học
Tổng số
TS KH và TS
THs
Chuyên khoa I&II
ĐH và CĐ
Khác
2000 - 2001
32.205
4.563
8.064
600
18.475
503
Tỉ lệ %
100
14.17
25.03
1.86
57.37
1.56
2001 - 2002
35.938
4.970
9.543
618
20.348
459
Tỉ Lệ %
100
13.83
26.25
1.72
56.62
1.28
Nguồn: Trung tâm thông tin quản lý giáo dục
Bên cạnh vấn đề về số lượng thì hiện nay giáo dục Đại học cũng đang vấp phải tình trạng "lão hoá" giảng viên có trình độ cao. Số liệu thực tế cho thấy, tuổi trung bình của cán bộ khoa học công nghệ làm việc trong các trường Đại học là 45 - 46, lứa tuổi trên 45 chiếm từ 65%-70%. Tuổi đời của giảng viên có trình độ sau Đại học còn cao hơn nữa: Tuổi đời trung bình của giảng viên khi làm luận án Tiến sỹ là 47 - 50 (77% nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong nước có độ tuổi trung bình là 42 - 45). Trong khi đó độ tuổi giảng viên có học hàm còn cao hơn nữa: Giáo sư có độ tuổi trung bình là 60, Phó giáo sư là trên 50. Như vậy tình trạng; "lão hoá" và hẫng hụt giảng viên có trình độ cao trong giáo dục Đại học ở nước ta có nguyên nhân từ công tác đào tạo sau Đại học của chúng ta chưa phát triển đồng bộ, liên tục và thường xuyên. Vừa qua Bộ Giáo dục và đào đã xây dựng và kiến nghị được ban tổ chức cán bộ Chính phủ chấp nhận đặc cách giảng viên chính cho 2.030 giảng viên Đại học đủ điều kiện. Đã tổ chức thi giảng viên chính cho một số trường ở khu vực Hà Nội và đang triển khai ở một số trường khác. Đã đề nghị Chính phủ cho phép các trường Đại học tuyển dụng cán bộ khoa học trẻ theo hình thức hợp đồng dài hạn tong khi chưa bổ sung biên chế mới. Để chủ động tạo nguồn cán bộ khoa học trẻ, ở một số trường Đại học đầu ngành đã mở thí điểm lớp cử nhân tài năng, kĩ sư chất lượng cao. Đã xây dựng và đựơc Chính phủ phê duyệt đề án "Đào tạo cán bộ khoa học kĩ thuật ở các cơ sở nước ngoài bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước". Đề án đào tạo cán bộ khoa học công nghệ ở Liên bang Nga bằng nguồn kinh phí xử lí nợ giữa hai nước; đề án quỹ giáo dục Việt Nam - Hoa Kì và thông qua các hiệp định phi chính phủ; đề án hợp tác song phương, đa phương giữa các Bộ ngành, các trường Đại học với đối tác nước ngoài. Qua gần hai năm thực hiện "đề án đào tạo cán bộ khoa học và kĩ thuật ở nước ngoài bằng vốn ngân sách Nhà nước" cho thấy nhiều trường chưa có kế hoạch dài hạn, thiếu chủ động và chưa tận dụng tốt cơ hội để đào tạo cán bộ. Thực tế đã khẳng định trình độ chuyên môn, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ của đội ngũ giảng viên và cán bộ nghiên cứu còn hạn chế. Số giảng viên có hai ngoại ngữ đọc thông viết thạo rất ít (6,2%). Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng nghiên cứu, đọc tài liệu và ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ của các giảng viên Đại học. Và chất lượng giáo dục Đại học cũng bị ảnh hưởng nên cần khắc phục tình trạng trên.
2. Tình trạng về cơ cấu đào tạo.
2.1. Cơ cấu sinh viên theo loại hình sở hữu:
Hiện nay ở Việt Nam các trường Đại học chủ yếu phân theo loại hình sở hữu công lập và dân lập, số trường bán công chiếm tỷ lệ rất nhỏ (2,214%). Số lượng sinh viên theo học ở các trường này phân tích như sau:
Bảng 10: Quy mô sinh viên tuyển mới theo loại hình sở hữu.
Năm học
Tổng số
Công lập
Dân lập
Số lượng
%
Số lượng
%
1999 - 2000
206.248
179.423
86,99
19.787
9,59
2000 - 2001
215.281
187.330
87,02
21.416
9,95
2001 - 2002
239.584
207.902
86,78
23.723
9,90
Nguồn: Trung tâm thông tin quản lý giáo dục
Qua số liệu bảng10 ta thấy số sinh viên được đào tạo trong các trường dân lập ngày càng tăng lên qua các năm: Nếu như năm học 1999 - 2000 số sinh viên tuyển mới vào các trường Đại học và Cao đẳng dân lập chỉ chiếm 9,59% trong tổng số sinh viên tuyển mới vào Đại học và Cao đẳng thì đến năm 2001- 2002 đã tăng lên 9,90%. Điều này cho thấy việc xã hội hoá giáo dục Đại học có những bước chuyển biến tích cực, đã thu hút các thành phần ngoài công lập tham gia vào hoạt động giáo dục Đại học. Đồng thời cũng chứng minh cho thấy việc phát triển các trường Đại học ngoài công lập đã san sẻ được gánh nặng cho các trường Đại học công lập bởi vì số lượng sinh viên tuyển mới ngày càng tăng trong khi đó quy mô các trường Đại học công lập không tăng kịp.
Thực tế cũng cho thấy những năm qua chất lượng đào tạo của các trường Đại học ngoài công lập đã tăng lên rõ rệt. Số lượng sinh viên ra trường đều có kĩ năng, trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của thị trường lao động. Vì vậy tỷ lệ sinh viên ở các trường này có việc làm ổn định thu nhập cao chiếm tỷ lệ khá lớn (72,86%- theo Báo cáo về phát triển giáo dục Đại học của Viện nghiên cứu giáo dục). Đây chính là những yếu tố khích lệ phát triển các trường ngoài công lập cả về quy mô lẫn chất lượng. Chính vì thế mà quy mô tuyển mới sinh viên ngoài công lập (chủ yếu là dân lập) tăng rất nhanh, vượt kế hoạch đề ra: Năm học 2000 - 2001 đạt 112,40% so với kế hoạch (kế hoạch tuyển mới 19.503 sinh viên, thực hiện tuyển được 21.416 sinh viên); n...