iwish_helovedme_forever
New Member
Download Luận văn Nghiên cứu đánh giá thực trạng về giáo dân di cư vùng nhà thờ Thái Hà, Hà Nội tiếp cận với giáo dục
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 6
I. GIỚI THIỆUCHUNG 6
1. Lý do lựa chọn đềtài6
2. Mục đích nghiên cứu của đềtài8
3. Giới hạn nghiên cứu của đềtài 8
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊNCỨU 8
1. Câu hỏi nghiên cứu/giảthiết nghiên cứu 8
2. Khách thể và đối tượngnghiên cứu 9
3. Phương pháptiếp cận nghiên cứu 9
4. Phạmvi, thời gian khảo sát 9
Nội dung 10
Chương 1:Cơsởlýluận và tổng quan 10
I. TỔNG QUAN 10
II. MỘTSỐ KHÁI NIỆM VÀ ỊNH NGHĨA CƠBẢN 14
1. Sựdi cư(Lịch sửdi cư) 15
2. Một vài nétvềGiáo dân di cưvùng nhà thờThái Hà, HàNội 17
3. Người dicư 17
4. Khái niệmvềtiếp cận dịch vụ xã hội 19
4.1. Khái niệm chungvềtiếp cận dịchvụ xã hội 19
4.2. Cơhội tiếp cận với giáo dục 19 4
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu khoa học 21
I. VẤN ỀNGHIÊNCỨU 21
1. Xâydựng bộ công cụ đo lường 23
1.1. Lịch sửdi cư 23
1.2. Điều kiện - Chất lượng cuộc sống 29
1.3. Cơhội tiếp cận với các dịch vụ xã hội (đặcbiệt là khảnăng tiếp cận với giáo dục) 35
1.4. Những khó khăn thườnggặpcủaGiáodân dicư 36
2. Thiết kếmẫu 43
3. Nhập và xửlýsốliệu 44
II. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN 45
1. Nghiên cứu định lượng 45
2. Nghiên cứu định tính 46
3. Phương phápquan sát 46
4. Phân tích tài liệu thứcấp 47
5. Tiến hành thu thập thông tin 47
Chương 3: Thực trạngvềGiáo dân di cư vùng nhà thờThái Hà, Hà Nội 49
1. Một sốthông tin nghiên cứu ban đầuvềGiáo dân di cư 49
2. Các điều kiện sống 55
3. Những khó khăn mà Giáo dân di cưthường gặp phải trong quá
trình sống,học tậpvà làm việc tại Hà nội 64
4. Cơhội tiếp cận với giáo dục của Giáo dân di cư 69
4.1. Khảnăng chi trảhọcphí 71
4.2. Thời gian dành cho việc học tập 71
4.3. Xâydựngmôhình ước lượng ước lượngcácnhân tốvề khảnăng
tiếp cận giáodục của Giáo dân di cư vùngnhàthờTháiHà, Hànội
4.3.1. Sự khác biệt giữanam và nữvềcơhộitiếpcận với giáodục của Giáodân di cư79
4.3.2. Tìm hiểu sựkhác biệt giữacác nhóm tuổi về khảnăng tiếp cận với giáo dụccủaGiáo dân di cư80
Kết luận chung 84
I. KẾT LUẬN 84
II. KHUYẾN NGHỊ VÀ ỀXUẤT GIẢI PHÁP 87
Tài liệu tham khảo 95
Phụlục
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/-images-nopreview.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-41552/
Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
50
cho thấy có đến 77.3% cư trú xung quanh khu vực nhà thờ Thái Hà, cụ thể: khu vực
quận Đống Đa (55.1%), Thanh Xuân (13.1%), Cầu Giấy (9.1%).
Nhiều nghiên cứu trước về người di cư cũng chỉ cho thấy phần nhiều người di cư
đến Hà Nội còn rất trẻ, có tuổi đời từ 20 - 40. Họ chủ yếu đều là nam giới, phụ nữ
chỉ chiếm một phần nhỏ, nhưng gần đây tỷ lệ di dân giữa nam, nữ đã dần thay đổi
với sự tham gia ngày càng đông đảo của phụ nữ (53% nữ so với 47% nam, TCTK
2001). Trong nghiên cứu này, số lượng nam, nữ được khảo sát có thể nói là khá
tương đồng: nam chiếm 52.9%, nữ chiếm 47.1%. Theo thống kê về giới tính và độ
tuổi của Giáo dân di cư vùng nhà thờ Thái Hà, độ tuổi trung bình của mẫu như sau:
§ Độ tuổi trung bình của nam giới theo mẫu là 27.01 tuổi, còn của nữ giới là
26.37. Như vậy, trong mẫu nghiên cứu này, tuổi đời của cả hai giới là xấp xỉ
gần bằng nhau.
§ Khoảng ước lượng cho độ tuổi trung bình của tổng thể với độ tin cậy 95%
của cả nam và nữ lần lượt là (25.88; 28.13) và (25.13; 27.62).
§ Tuổi hay gặp nhất ở các đối tượng nam là 24 và nữ là 23.
§ Khoảng biến thiên tuổi tác của 2 giới nằm trong khoảng từ 37-39 tuổi, độ
tuổi nhỏ nhất và lớn nhất giữa 2 giới chênh nhau 1 tuổi (nam:16-55, nữ:17-
54).
Dễ dàng nhận thấy nhóm Giáo dân di cư vào Hà Nội chủ yếu đều đang trong độ tuổi
lao động sung sức, từ 16 – 39 tuổi chiếm 82.6% tổng số. Đặc điểm này cũng hoàn
toàn phù hợp với đặc tính chọn lọc của di cư theo độ tuổi: những người ở tuổi
trưởng thành và những người mới lớn có khuynh hướng di cư nhiều hơn và họ cũng
dễ thích nghi hơn và hoà nhập với điều kiện sống mới. Thêm nữa phần nhiều đều là
thanh niên chưa lập gia đình (chiếm 65.1%) nên không có quá nhiều ràng buộc.
Một công trình nghiên cứu trước đây sử dụng số liệu tổng điều tra của Tổng Cục
điều tra dân số cho thấy di cư của nhóm dân số trẻ cũng có chiều hướng gia tăng
theo trình độ học vấn, bởi người có học cao hơn có xu hướng di cư nhiều hơn25. Các
25 Nguồn: Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Di cư trong nước và mối liên hệ với các sự kiện của cuộc sống. Tổng cục thống kê.
Hà Nội, tháng 11/2006.
51
Giáo dân di cư được khảo sát trong nghiên cứu này có trình độ học vấn tương đối
tốt: số giáo dân có trình độ từ Trung cấp trở lên chiếm tỷ lệ khá cao: 41.1%, trong
đó: TC/TH chuyên nghiệp 7.4%, CĐ/ĐH chiếm 31.7%, sau đại học là 2% và đều
nằm trong độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi. Với những người có trình độ học vấn cao, nhất
là tầng lớp sinh viên học tập tại Hà Nội,
mới ra trường thì đều muốn lập nghiệp tại
Hà Nội vì ở đây họ có điều kiện thuận lợi
hơn để làm kinh tế, có nhiều cơ hội để lựa
chọn nghề nghiệp thích hợp, đồng thời họ
cũng có môi trường tốt hơn để học tập, nâng
cao trình độ…
Thực ra ở Hà Nội có khả năng nâng cao hơn, chứ ở quê cuộc sống thấp, nhu cầu chưa cao lắm, nên khó
khăn. Sau này, có điều kiện thì cũng về quê thoải mái hơn. (Hoàng Anh Chuyên, 1984. Sinh viên năm thứ 3,
ĐH mở)
Nếu bạn ở trong một quả núi, bạn chằng nhìn thấy gì cả, nhưng mà đứng trên đỉnh núi thì bạn nhìn thấy tất
cả. .. Ra ngoài tiếp xúc giao lưu lúc đấy mình tỉnh táo được nhiều hơn, có thể phát triển được, nếu không
mình sẽ bị tụt hậu. (Trần Văn Ngọc, Nam ĐỊnh)
Xấp xỉ 90% sinh viên cho rằng ở lại Hà Nội, họ có điều kiện phát triển bản thân, có điều kiện để cải thiện về
kinh tế, có điều kiện để làm việc đúng chuyên ngành và kiếm được công việc thích hợp với năng lực chuyên
môn và ngành học. (Trích báo cáo nghiên cứu đới sống sinh viên Công giáo, 2007 _ Trung tâm nghiên cứu
Giới, gia đình và Môi trường trong phát triển)
Còn những người có học vấn thấp hơn, ít được đào tạo chuyên môn cũng có nhu
cầu di chuyển đến Hà Nội, vì theo họ ở Hà Nội dễ tìm việc làm cho dù đó là những
việc lao động giản đơn, nặng nhọc và thu thập không cao.
… Thì chị cũng muốn có nghề nhưng cô bảo, không có nghề gì. Điều kiện thì không có nên phải chấp nhận
thôi. (Chị Cải, quê Nam Định. Làm nghề đồng nát)
Nếu có nghề khác thì cùng không muốn làm nghề này (nghề đồng nát). Nghề này rất dễ làm, không có yêu
cầu cao. Nếu tìm việc khác thì trình độ thấp kém, không đáp ứng được yêu cầu. (Chị Dung, quê Nam Định)
Trình độ
học vấn Tần suất Tỷ lệ %
% cộng
dồn
Hết cấp II 168 48.0 48.0
Hết cấp III 38 10.9 58.9
Trung cấp/
TH chuyên nghiệp 26 7.4 66.3
CĐ/ĐH 111 31.7 98.0
Sau ĐH 7 2.0 100.0
Tông số 350 100.0
Bảng 3.1: Trình độ học vấn chung của Giáo dân
di cư vùng nhà thờ Thái Hà
52
Cứ có người gọi đi làm là em đi, không thì em đi đồng nát. Vớ được cái gì họ gọi, lau nhà, lau cửa, bất cứ
việc gì em cũng làm, kể cả chở rác, chuyển đất, đỏ cát, chuyển ngói … đều làm hết. Đã lên đây thì không
nghỉ buổi nào, cố mà đi làm. Hồi trước ở nhà thì chẳng có việc gì mà làm đâu, có nghĩa là làm thuê làm
mướn, đi gặt, đi hái này, mình có 2,4 sào ruộng mà 3 mặt con là không đủ ăn đâu, họ mượn đi gặt, đi hái, đào
đất, họ mượn mình làm cái gì ở quê thì mình làm cái đấy. Mình làm hết mọi việc thì mình kiếm cho con ăn
chứ làm gì mà đủ hả chỉ. Ba miệng ăn, một tí cái gì cũng đóng góp mà 3 đứa con là không có tí ruộng nào chị
ạ, độc có ở nhà làm thuê làm mướn, giờ con nó khôn khôn lên một tí thì mới lên đây làm được vài năm nay
đấy chị ạ (Chị Trần Thị Hường, 1976. Quê Nam Định)
Ngược với nhiều nghiên cứu trước đây cho rằng đa phần người di dân đều không
qua đào tạo chuyên môn (81.1%)26, dân trí thấp, mù chữ chiếm tỷ lệ cao, khoảng
13,5-20%27. Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ học vấn của nhóm Công giáo di
cư so với người di cư trong nhiều nghiên cứu trước đó có xu hướng tăng lên. Tỷ lệ
Giáo dân tốt nghiệp trung học cơ sở (48%) và trung học phổ thông (10.9%) chiếm
hơn phân nửa mẫu điều tra nghiên cứu. Điều này cũng hoàn toàn hợp lý bởi có đến
73.5% Giáo dân làm việc trong lĩnh vực lao động phổ thông. Số ít có cơ hội tham
gia làm việc trong các khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, chiếm 16,3%. Nhìn
chung, tuỳ từng trường hợp vào mục đích di chuyển mà thể hiện ra sự khác biệt về tình trạng
việc làm, nghề nghiệp vào tiểm lực kinh tế. Một sự thay đổi và chuyển dịch nghề
nghiệp tất yếu đã diễn ra, do vậy không tránh khỏi việc Giáo dân di cư ít nhiều cũng
gặp khó khăn trong quá trình tìm việc làm có thu nhập cao, ổn định.
Với sự tăng trưởng của kinh tế Hà Nội trong những năm gần đây, mức sống của
người dân đô thị đã không ngừng được cải thiện, mức GDP của Hà Nội đã tăng 2,99
lần, đạt tốc độ tăng bình quân 11,6%/năm, cao hơn tốc độ tăng GDP của cả nước
1,5 lần28. Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê, thu nhập bình quân đầu
người một tháng (2004) theo giá thực tế phân theo thành thị, nông thôn thì thu nhập
ở thành thị cao gấp 2,2 lần (tính trên cả nước) và xấp xỉ 1,34 lần (khu vực đồn...
Download miễn phí Luận văn Nghiên cứu đánh giá thực trạng về giáo dân di cư vùng nhà thờ Thái Hà, Hà Nội tiếp cận với giáo dục
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 6
I. GIỚI THIỆUCHUNG 6
1. Lý do lựa chọn đềtài6
2. Mục đích nghiên cứu của đềtài8
3. Giới hạn nghiên cứu của đềtài 8
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊNCỨU 8
1. Câu hỏi nghiên cứu/giảthiết nghiên cứu 8
2. Khách thể và đối tượngnghiên cứu 9
3. Phương pháptiếp cận nghiên cứu 9
4. Phạmvi, thời gian khảo sát 9
Nội dung 10
Chương 1:Cơsởlýluận và tổng quan 10
I. TỔNG QUAN 10
II. MỘTSỐ KHÁI NIỆM VÀ ỊNH NGHĨA CƠBẢN 14
1. Sựdi cư(Lịch sửdi cư) 15
2. Một vài nétvềGiáo dân di cưvùng nhà thờThái Hà, HàNội 17
3. Người dicư 17
4. Khái niệmvềtiếp cận dịch vụ xã hội 19
4.1. Khái niệm chungvềtiếp cận dịchvụ xã hội 19
4.2. Cơhội tiếp cận với giáo dục 19 4
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu khoa học 21
I. VẤN ỀNGHIÊNCỨU 21
1. Xâydựng bộ công cụ đo lường 23
1.1. Lịch sửdi cư 23
1.2. Điều kiện - Chất lượng cuộc sống 29
1.3. Cơhội tiếp cận với các dịch vụ xã hội (đặcbiệt là khảnăng tiếp cận với giáo dục) 35
1.4. Những khó khăn thườnggặpcủaGiáodân dicư 36
2. Thiết kếmẫu 43
3. Nhập và xửlýsốliệu 44
II. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN 45
1. Nghiên cứu định lượng 45
2. Nghiên cứu định tính 46
3. Phương phápquan sát 46
4. Phân tích tài liệu thứcấp 47
5. Tiến hành thu thập thông tin 47
Chương 3: Thực trạngvềGiáo dân di cư vùng nhà thờThái Hà, Hà Nội 49
1. Một sốthông tin nghiên cứu ban đầuvềGiáo dân di cư 49
2. Các điều kiện sống 55
3. Những khó khăn mà Giáo dân di cưthường gặp phải trong quá
trình sống,học tậpvà làm việc tại Hà nội 64
4. Cơhội tiếp cận với giáo dục của Giáo dân di cư 69
4.1. Khảnăng chi trảhọcphí 71
4.2. Thời gian dành cho việc học tập 71
4.3. Xâydựngmôhình ước lượng ước lượngcácnhân tốvề khảnăng
tiếp cận giáodục của Giáo dân di cư vùngnhàthờTháiHà, Hànội
4.3.1. Sự khác biệt giữanam và nữvềcơhộitiếpcận với giáodục của Giáodân di cư79
4.3.2. Tìm hiểu sựkhác biệt giữacác nhóm tuổi về khảnăng tiếp cận với giáo dụccủaGiáo dân di cư80
Kết luận chung 84
I. KẾT LUẬN 84
II. KHUYẾN NGHỊ VÀ ỀXUẤT GIẢI PHÁP 87
Tài liệu tham khảo 95
Phụlục
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/-images-nopreview.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-41552/
Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung:
ng cảnh nơi họ ra đi.50
cho thấy có đến 77.3% cư trú xung quanh khu vực nhà thờ Thái Hà, cụ thể: khu vực
quận Đống Đa (55.1%), Thanh Xuân (13.1%), Cầu Giấy (9.1%).
Nhiều nghiên cứu trước về người di cư cũng chỉ cho thấy phần nhiều người di cư
đến Hà Nội còn rất trẻ, có tuổi đời từ 20 - 40. Họ chủ yếu đều là nam giới, phụ nữ
chỉ chiếm một phần nhỏ, nhưng gần đây tỷ lệ di dân giữa nam, nữ đã dần thay đổi
với sự tham gia ngày càng đông đảo của phụ nữ (53% nữ so với 47% nam, TCTK
2001). Trong nghiên cứu này, số lượng nam, nữ được khảo sát có thể nói là khá
tương đồng: nam chiếm 52.9%, nữ chiếm 47.1%. Theo thống kê về giới tính và độ
tuổi của Giáo dân di cư vùng nhà thờ Thái Hà, độ tuổi trung bình của mẫu như sau:
§ Độ tuổi trung bình của nam giới theo mẫu là 27.01 tuổi, còn của nữ giới là
26.37. Như vậy, trong mẫu nghiên cứu này, tuổi đời của cả hai giới là xấp xỉ
gần bằng nhau.
§ Khoảng ước lượng cho độ tuổi trung bình của tổng thể với độ tin cậy 95%
của cả nam và nữ lần lượt là (25.88; 28.13) và (25.13; 27.62).
§ Tuổi hay gặp nhất ở các đối tượng nam là 24 và nữ là 23.
§ Khoảng biến thiên tuổi tác của 2 giới nằm trong khoảng từ 37-39 tuổi, độ
tuổi nhỏ nhất và lớn nhất giữa 2 giới chênh nhau 1 tuổi (nam:16-55, nữ:17-
54).
Dễ dàng nhận thấy nhóm Giáo dân di cư vào Hà Nội chủ yếu đều đang trong độ tuổi
lao động sung sức, từ 16 – 39 tuổi chiếm 82.6% tổng số. Đặc điểm này cũng hoàn
toàn phù hợp với đặc tính chọn lọc của di cư theo độ tuổi: những người ở tuổi
trưởng thành và những người mới lớn có khuynh hướng di cư nhiều hơn và họ cũng
dễ thích nghi hơn và hoà nhập với điều kiện sống mới. Thêm nữa phần nhiều đều là
thanh niên chưa lập gia đình (chiếm 65.1%) nên không có quá nhiều ràng buộc.
Một công trình nghiên cứu trước đây sử dụng số liệu tổng điều tra của Tổng Cục
điều tra dân số cho thấy di cư của nhóm dân số trẻ cũng có chiều hướng gia tăng
theo trình độ học vấn, bởi người có học cao hơn có xu hướng di cư nhiều hơn25. Các
25 Nguồn: Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Di cư trong nước và mối liên hệ với các sự kiện của cuộc sống. Tổng cục thống kê.
Hà Nội, tháng 11/2006.
51
Giáo dân di cư được khảo sát trong nghiên cứu này có trình độ học vấn tương đối
tốt: số giáo dân có trình độ từ Trung cấp trở lên chiếm tỷ lệ khá cao: 41.1%, trong
đó: TC/TH chuyên nghiệp 7.4%, CĐ/ĐH chiếm 31.7%, sau đại học là 2% và đều
nằm trong độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi. Với những người có trình độ học vấn cao, nhất
là tầng lớp sinh viên học tập tại Hà Nội,
mới ra trường thì đều muốn lập nghiệp tại
Hà Nội vì ở đây họ có điều kiện thuận lợi
hơn để làm kinh tế, có nhiều cơ hội để lựa
chọn nghề nghiệp thích hợp, đồng thời họ
cũng có môi trường tốt hơn để học tập, nâng
cao trình độ…
Thực ra ở Hà Nội có khả năng nâng cao hơn, chứ ở quê cuộc sống thấp, nhu cầu chưa cao lắm, nên khó
khăn. Sau này, có điều kiện thì cũng về quê thoải mái hơn. (Hoàng Anh Chuyên, 1984. Sinh viên năm thứ 3,
ĐH mở)
Nếu bạn ở trong một quả núi, bạn chằng nhìn thấy gì cả, nhưng mà đứng trên đỉnh núi thì bạn nhìn thấy tất
cả. .. Ra ngoài tiếp xúc giao lưu lúc đấy mình tỉnh táo được nhiều hơn, có thể phát triển được, nếu không
mình sẽ bị tụt hậu. (Trần Văn Ngọc, Nam ĐỊnh)
Xấp xỉ 90% sinh viên cho rằng ở lại Hà Nội, họ có điều kiện phát triển bản thân, có điều kiện để cải thiện về
kinh tế, có điều kiện để làm việc đúng chuyên ngành và kiếm được công việc thích hợp với năng lực chuyên
môn và ngành học. (Trích báo cáo nghiên cứu đới sống sinh viên Công giáo, 2007 _ Trung tâm nghiên cứu
Giới, gia đình và Môi trường trong phát triển)
Còn những người có học vấn thấp hơn, ít được đào tạo chuyên môn cũng có nhu
cầu di chuyển đến Hà Nội, vì theo họ ở Hà Nội dễ tìm việc làm cho dù đó là những
việc lao động giản đơn, nặng nhọc và thu thập không cao.
… Thì chị cũng muốn có nghề nhưng cô bảo, không có nghề gì. Điều kiện thì không có nên phải chấp nhận
thôi. (Chị Cải, quê Nam Định. Làm nghề đồng nát)
Nếu có nghề khác thì cùng không muốn làm nghề này (nghề đồng nát). Nghề này rất dễ làm, không có yêu
cầu cao. Nếu tìm việc khác thì trình độ thấp kém, không đáp ứng được yêu cầu. (Chị Dung, quê Nam Định)
Trình độ
học vấn Tần suất Tỷ lệ %
% cộng
dồn
Hết cấp II 168 48.0 48.0
Hết cấp III 38 10.9 58.9
Trung cấp/
TH chuyên nghiệp 26 7.4 66.3
CĐ/ĐH 111 31.7 98.0
Sau ĐH 7 2.0 100.0
Tông số 350 100.0
Bảng 3.1: Trình độ học vấn chung của Giáo dân
di cư vùng nhà thờ Thái Hà
52
Cứ có người gọi đi làm là em đi, không thì em đi đồng nát. Vớ được cái gì họ gọi, lau nhà, lau cửa, bất cứ
việc gì em cũng làm, kể cả chở rác, chuyển đất, đỏ cát, chuyển ngói … đều làm hết. Đã lên đây thì không
nghỉ buổi nào, cố mà đi làm. Hồi trước ở nhà thì chẳng có việc gì mà làm đâu, có nghĩa là làm thuê làm
mướn, đi gặt, đi hái này, mình có 2,4 sào ruộng mà 3 mặt con là không đủ ăn đâu, họ mượn đi gặt, đi hái, đào
đất, họ mượn mình làm cái gì ở quê thì mình làm cái đấy. Mình làm hết mọi việc thì mình kiếm cho con ăn
chứ làm gì mà đủ hả chỉ. Ba miệng ăn, một tí cái gì cũng đóng góp mà 3 đứa con là không có tí ruộng nào chị
ạ, độc có ở nhà làm thuê làm mướn, giờ con nó khôn khôn lên một tí thì mới lên đây làm được vài năm nay
đấy chị ạ (Chị Trần Thị Hường, 1976. Quê Nam Định)
Ngược với nhiều nghiên cứu trước đây cho rằng đa phần người di dân đều không
qua đào tạo chuyên môn (81.1%)26, dân trí thấp, mù chữ chiếm tỷ lệ cao, khoảng
13,5-20%27. Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ học vấn của nhóm Công giáo di
cư so với người di cư trong nhiều nghiên cứu trước đó có xu hướng tăng lên. Tỷ lệ
Giáo dân tốt nghiệp trung học cơ sở (48%) và trung học phổ thông (10.9%) chiếm
hơn phân nửa mẫu điều tra nghiên cứu. Điều này cũng hoàn toàn hợp lý bởi có đến
73.5% Giáo dân làm việc trong lĩnh vực lao động phổ thông. Số ít có cơ hội tham
gia làm việc trong các khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, chiếm 16,3%. Nhìn
chung, tuỳ từng trường hợp vào mục đích di chuyển mà thể hiện ra sự khác biệt về tình trạng
việc làm, nghề nghiệp vào tiểm lực kinh tế. Một sự thay đổi và chuyển dịch nghề
nghiệp tất yếu đã diễn ra, do vậy không tránh khỏi việc Giáo dân di cư ít nhiều cũng
gặp khó khăn trong quá trình tìm việc làm có thu nhập cao, ổn định.
Với sự tăng trưởng của kinh tế Hà Nội trong những năm gần đây, mức sống của
người dân đô thị đã không ngừng được cải thiện, mức GDP của Hà Nội đã tăng 2,99
lần, đạt tốc độ tăng bình quân 11,6%/năm, cao hơn tốc độ tăng GDP của cả nước
1,5 lần28. Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê, thu nhập bình quân đầu
người một tháng (2004) theo giá thực tế phân theo thành thị, nông thôn thì thu nhập
ở thành thị cao gấp 2,2 lần (tính trên cả nước) và xấp xỉ 1,34 lần (khu vực đồn...