levelpro125
New Member
Download miễn phí Đề tài Các giải pháp khắc phục tồn tại và đẩy mạnh xuất khẩu chè ở Tổng công ty chè Việt Nam
Mục tiêu của việc nghiên cứu thị trường là nhằm xác định các bạn hàng ổn định lâu dài cho từng mặt hàng xuất khẩu, xác định dung lượng thị trường tính cho mỗi loại mặt hàng, mỗi thị trường khác nhau là bao nhiêu. Muốn thực hiện tốt các mục tiêu trên thì Tổng công ty cần:
- Thành lập các bộ phận chuyên thu thập xử lý các thông tin về thị trường chè. Cần tổ chức tuyển chọn, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác Marketing.
- Tích cực tìm hiểu nắm bắt thông tin về bạn hàng, đối thủ cạnh tranh thông qua các cuộc hội trợ, hội thảo, triển lãm trong nước cũng như quốc tế.
- Tạo dựng tốt mối quan hệ với khách hàng nước ngoài thông qua các chi nhánh thay mặt ở đó.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-04-01-de_tai_cac_giai_phap_khac_phuc_ton_tai_va_day_manh.ZkZ6YfRbhh.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-66957/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
I. So sánh khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu chè của Việt Nam với Srilanca, ấn Độ, Trung Quốc.Năm
Tên nước
Ước tính năm 2000
Số lượng sơ bộ năm 1999
1998
1997
Sản lượng (tấn)
%
Sản lượng (tấn)
%
Sản lượng (tấn)
%
Sản lượng (tấn)
%
ấn Độ
835.000
44,9
805.612
44,5
870.405
4,8
816.613
46,6
Srilanca
302.000
16,2
284.190
15,7
280.056
15,4
277.428
15,8
Trung Quốc
676.115
36,3
675.871
37,4
620.000
34,1
613.366
3,5
Việt Nam
48.000
2,6
42.500
2,4
46.000
2,5
45.000
2,6
Tổng số
1.861.115
100
1.808.173
100
1.816.461
100
1.752.407
100
Nguồn: Tổng công ty chè Việt Nam
Nhìn vào bảng ta thấy ấn Độ chiếm phần lớn (gần 50%) tiếp theo là Trung Quốc, Srilanca cuối cùng là Việt Nam (2,5%). Nhìn chung sản lượng qua các năm ở từng nước biến đổi không nhiều, tuy nhiên qua việc xét từng nước dưới đây ta sẽ thấy được những nét riêng biệt trong việc sản xuất và xuất khẩu chè ở những nước khác nhau là không giống nhau.
1. Srilanca
Ngành chè Srilanca không chỉ thành công trong việc nâng cao mức sản lượng, thị trường xuất khẩu mà giá chè của Srilanca lại có giá cao trong trung tâm đấu giá Colombo. Sản lượng năm 2000 đạt 302.000 tấn tăng 17.810 tấn so với năm 1999 và 21.944 tấn so với năm 1998. Trong khi hầu hết các nước trồng chè có mức sản lượng dao động thì Srilanca lại có mức sản lượng tăng trong 8 năm liên tiếp (từ 1992-200). Nguyên nhân chính là do thời tiết thuận lợi cộng với những cải tiến mới trong nông nghiệp.
Doanh thu xuất khẩu trong 11 tháng năm 2000 đạt 47,88 tỷ RS tăng 18,57% so với cùng kỳ năm 1999 (40,38 tỷ RS). Theo số liệu từ những nhà môi giới Forbes & Walker: xuất khẩu từ tháng 1-11/2000 đạt 262.507 tấn tăng 5,59% so với cùng kỳ năm 1999. Nhìn vào bảng ta có thể thấy Srilanca chủ yếu sản xuất chè đen, tuy nhiên chủ yếu dùng cho xuất khẩu, lượng chè tiêu thụ trong nước là rất nhỏ (gần 8% năm 2001).
Sản lượng và số lượng tiêu dùng chè của Srilanca (tấn)
2001 (dự tính)
2000 (ước tính)
1999
Sản lượng chè
Chè xanh
1.000
900
430
Chè đen
309.000
299.100
283.760
Tổng số
310.000
300.000
284.190
Sản lượng tiêu dùng
Chè xanh
25
25
20
Chè đen
24.600
24.600
24.500
Tổng số
24.625
24.625
245.020
Nguồn: Tổng công ty chè Việt Nam
Về thị trường xuất khẩu: Các nước trong khối cộng đồng chung là những nước nhập khẩu chè chính của Srilanca, tiếp theo là các nước vương quốc ả Rập thống nhất với thị phần chiếm 15%, Srilanca cũng thành công trong việc xâm nhập vào thị trường Ai Cập (thị trường trước kia bị Kenya chiếm lĩnh với mức thuế suất hải quan ưu đãi. Xuất khẩu chè của Srilanca tới Nhật và Iran cũng phát triển trong những năm qua trong khi đó xuất khẩu tới Anh, Thổ Nhĩ Kỳ lại giảm xuống. Nga cùng các nước trong khối SNG và thị trường Trung Đông là những thị trường nhập khẩu ổn định của Srilanca.
Những thuận lợi chính trong sản xuất và xuất khẩu chè của Srilanca: Thuận lợi lớn nhất phải kể đến là việc chuyển đổi các công ty chuyên sản xuất nông sản sang lĩnh vực tư nhân cộng với uy tín trên thị trường và việc loại bỏ những cơ cấu máy móc cồng kềnh kém linh hoạt đã tạo ra sức mạnh cho ngành chè Srilanca và là yếu tố tạo đà đi lên trong việc hoàn thiện về chất lượng và tìm thị trường xuất khẩu.
Bên cạnh đó Srilanca có thuận lợi hơn so với nhiều nước xuất khẩu chè khác là do sự sụt giảm tiếp tục của đồng RS khiến chè của Srilanca có giá rẻ hơn so với những nước cạnh tranh khác đặc biệt là ấn Độ.
Tuy nhiên Srilanca cũng phải đối mặt với những khó khăn nhất định như Chính phủ do phải tăng chi phí quân sự (880 triệu USD năm 2000) nên làm hạn chế đầu tư cho phát triển ngành chè. Một khó khăn nữa mà ngành chè srphải đối mặt là cung đang tăng nhanh hơn cầu dẫn tới nguy cơ giảm giá trong ngành chè.
2. ấn Độ
Sản lượng và số lượng tiêu dùng chè của ấn Độ (tấn)
2001 (dự tính)
2000 (ước tính)
1999
Sản lượng chè
Chè xanh
8.000
8.000
Chè đen
827.000
797.000
Tổng số
835.000
805.000
Sản lượng tiêu dùng
Chè xanh
5.000
5.000
5.000
Chè đen
654.000
642.000
633.000
Tổng số
659.000
647.000
638.000
Nguồn: Tổng công ty chè Việt Nam
ấn Độ được coi là thị trường chè lớn nhất thế giới cho đến nay, sản lượng chè ấn Độ năm 1999 đạt 805.000 tấn giảm 7,47% so với 1998 (870.405 tấn), năm 2000 là 835.000 tấn.
Xuất khẩu chè năm 1998 đạt 207.000 tấn so với 189.000 tấn năm 1999 và 200.000 tấn năm 2000. Hiệp hội chè ấn Độ gần đây lưỡng lự trong việc bình luận đoán về sản lượng chè năm 2001 vì theo họ còn phải dựa vào điều kiện thời tiết và dự báo về mùa mưa từ văn phòng khí tượng thuỷ văn.
Hiệp hội những nhà sản xuất nông sản và Uỷ ban cố vấn (CCPA) - Cơ quan đầu não của ngành sản xuất nông sản ấn Độ đã khuyên những nhà sản xuất chè Bắc ấn dừng sản xuất chè đặc biệt là vào cuối vụ chè có chất lượng thấp (từ 12/12/2000 tới tháng 3,4 năm 2001). Hiệp hội những nhà trồng chè Assam (ATBA) đã yêu cầu những thành viên của mình ngừng sản xuất vào tháng 12 vì chè mùa đông có chất lượng rất thấp. Tất cả đều nhất trí rằng cần chú ý tập trung vào chất lượng. Một vài văn phòng đã thông báo về tình trạng sụt giảm giá chè qua các bảng đấu giá tại các trung tâm đặc biệt là Nam ấn do chất lượng thấp. Với những tham vọng về mức sản lượng trước đây thì nay tất cả các quan chức trong ngành chè đều xoay quanh vấn đề chất lượng. ATPA đã nhấn mạnh về tình trạng khủng hoảng mà nhiều hộ sản xuất nhỏ đang phải đối mặt. ATPA cũng thông báo về 80% số lượng chè được làm ra đã bán dưới chi phí sản xuất. Tại nhiều trung tâm đấu giá, trên thị trường một số lượng chè lớn vẫn đang tồn kho, đặc biệt là các loại chè chất lượng thấp. Một quan chức trong ngành chè cho biết công việc cấp bách là phải có những biện pháp điều chỉnh phù hợp để tránh tình trạng này. Tuy nhiên, những công ty chè lớn có vị trí trong việc hoàn thiện với những biện pháp nâng cao chất lượng, nâng cấp các trang thiết bị sản xuất thì phần đông các nhà sản xuất nhỏ lại không có nguồn tài chính cũng như uy tín về mặt chính trị để đối mặt với khủng hoảng. Hiệp hội chè Nhà nước ấn Độ đã thông báo một kế hoạch trợ cấp cho những người trồng chè nhỏ tại Nam ấn, nhưng khác nào muối bỏ biển.
Mặc dù kế hoạch trợ cấp và hạn chế sản xuất chè có thể xem là biện pháp trước mắt của ngành chè ấn Độ, biện pháp lâu dài là phải kích thích để tăng nhu cầu trong nước. Mặc dù ấn Độ có tỷ lệ tăng trưởng GDP cao hơn so với thập kỷ trước, điều này cũng không làm tăng thêm nhu cầu trong nước. Ngược lại, Hiệp hội chè ấn Độ phải có kế hoạch do nhu cầu trong nước giảm. Theo thống kê năm 2000, Hiệp hội thông báo những ước tính ban đầu về tỷ lệ tăng nhu cầu về chè trong nước là 2,5% là một con số hơi phóng đại và đi đến kết luận tỷ lệ tăng nhu cầu trong nước từ những năm 1990 dao động trong con số 1,8%. Theo số liệu của ITA, nhu cầu trong nước khoảng 657.000 tấn năm 1999 đã gây tranh cãi và cuối cùng sửa đổi giảm xuống còn 638.000 tấn. Theo đoán của Hiệp hội thì nhu cầu trong nước sẽ tăng lên 647.000 tấn năm 2000. M