Download Luận án Chính sách của các vương triều Việt Nam đối với người Hoa
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
MỤC LỤC
DẪN LUẬN trang 01
CHƯƠNG 1: CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI HOA CỦA CÁC VƯƠNG TRIỀU VIỆT NAM TỪ THỜI LÝ, TRẦN TRỞ VỀ TRƯỚC17
1.1 KIỂM SOÁT VÀ HẠN CHẾ NHẬP CẢNH NHƯNG CÓ ƯU TIÊN NỚI LỎNG VỚI NHỮNG ĐỐI TƯỢNG ĐẶC BIỆT19
1.2. TUỲ VÀO TỪNG ĐỐI TƯỢNG MÀ TẬP TRUNG HAY KHÔNG TẬP TRUNG CƯ TRÚ
23
1.3. TRÂN TRỌNG ƯU ĐÃI CÁC TRÍ THỨC NHO GIÁO VÀ PHẬT GIÁO25
1.4. KHÔNG KỲ THỊ, ÁP CHẾ VỀ VĂN HOÁ 31
1.5. AN NINH QUỐC GIA LÀ TỐI THƯỢNG 32
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI HOA CỦA CÁC VƯƠNG TRIỀU VIỆT NAM THỜI KỲ TỪ SAU MINH THUỘC ĐẾN ĐẦU TRIỀU NGUYỄN39
2.1. CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI HOA CỦA CHÍNH QUYỀN LÊ-TRỊNH Ở ĐÀNG NGOÀI 40
2.2. CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI HOA CỦA CHÍNH QUYỀN BẮC TRIỀU HỌ MẠC
2.3. CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN ĐÀNG TRONG ĐỐI VỚI NGƯỜI HOA
2.4. CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN TÂY SƠN ĐỐI VỚI NGƯỜI HOA75
CHƯƠNG 3: CHÍNH SÁCH CỦA TRIỀU NGUYỄN ĐỐI VỚINGƯỜI HOA89
3.1. KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ VỀ NHẬP CẢNH VÀ CƯ TRÚ91
3.2. VỀ TỔ CHỨC BANG VÀ MINH HƯƠNG XÃ 99
3.3. PHÂN ĐỊNH RIÊNG BIỆT VỀ LỆ THUẾ 106
3.4. NHỮNG ƯU ĐÃI VÀ CÂM ĐOÁN VỀ KINH TẾ 125
3.5. NHU VIỄN 139
3.6. NHỮNG THẾ HỆ NGƯỜI MINH HƯƠNG 148
3.7. ĐỐI PHÓ VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA 161
KẾT LUẬN 179
CHÚ GIẢI 190
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-22-luan_an_chinh_sach_cua_cac_vuong_trieu_viet_nam_do.PeCl7PWiLm.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-41512/
Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
tượng là người Thanh ở các bang và người Minh Hương ở các Minh Hương xã.
Nhiều tỉnh thành trong cả nước có Minh Hương xã. Việc cư trú của người Thanh
thuộc các bang ở các địa phương nhìn chung là có sự bố trí riêng biệt với người
Việt và người Minh Hương để dễ dàng kiểm soát và đánh thuế. Ngay từ thời Gia
Long, người Thanh ở Hà Tiên đã được bố trí ở tập trung thành một khu vực riêng
biệt gồm 6 phố, sở, xóm, thuộc như Minh Bột Đại phố, Minh Bột Kỳ Thụ phố,
Minh Bột Lư Khê sở, Minh Bột Thổ Khâu xóm... [77, tr.138]. Trong khi đó, ở Hà
Tiên có đến mấy đơn vị hành chánh tên là Minh Hương nằm rải rác nhiều vùng.
Tuy nhiên, nguyên tắc bố trí cư trú riêng biệt này không phải lúc nào cũng được
thực hiện. Những người Hoa được chiêu mộ khai khẩn đất hoang ở Tô Châu, Hà
Tiên vẫn sống chung đụng với các sắc dân khác. Riêng người Hoa ở Trấn Tây thì
triều Nguyễn lại chủ trương để cư trú chung lẫn với người Việt. Điều này được vua
Minh Mạng chỉ dụ vào tháng 8 năm 1839 như sau: "...nay các huyện sở tại đã bổ
quan kinh thì nên sức hỏi trong hạt nếu có dân kinh lưu ngụ và người nước Thanh
đầu ngụ đều cho đến hai bên tả hữu huyện lỵ làm nhà ở mà sinh nhai làm ăn rồi
chiếu theo số người nhiều ít mà lập thành thôn ấp, để cho họ tiêm nhiễm lẫn nhau
đều thành ra dân kinh, bất tất phải dồn riêng người nước Thanh làm bang hộ
nữa..." [85, 21, tr.172]. Đến thời Tự Đức, quy định về nhập cư đối với người Hoa
có dễ dàng hơn. Năm Tự Đức thứ hai, 1849, vua đã chấp thuận tờ sớ của Nguyễn
tri Phương đề nghị: "...người nước Thanh tự đến tình nguyện lưu ở 6 tỉnh Nam kỳ,
hễ đích xác có dân trong bang hay dân Minh Hương ở hạt ấy bảo nhận thì cho
phép trú ngụ ở đấy và khoan miễn thuế lệ 3 năm. Trong đó, hay có người nào xin
vào sổ dân trong bang hay xin chiểu các chỗ đất bỏ không dựng ấp khẩn ruộng
chịu thuế, đều cho tuỳ tiện..." [85, 26, tr.183]. Như vậy đến đây, việc nhập cảnh
đã không còn gắn chặt với đăng ký và xếp đặt cư trú. Tư liệu sau đây càng chứng
minh điều đó: Năm Tự Đức thứ 21 (1868), do bị giặc cướp đánh phá, dân chúng
tổng Hà Môn, Quảng Yên chạy sang trú tránh ở châu Khâm nước Thanh và đem
hết ruộng đất nhà (ở Hà Môn) bán cho người Thanh ở Khâm Châu. Sau đó số
người Thanh ấy xin sang làm nhà ở để canh tác số ruộng đất ấy. Tất cả có 18 hộ,
xin cất 18 căn nhà. Vua y cho, sai cả người và hộ đặt làm một đoàn, cử một người
làm đoàn trưởng và cho phép cư trú trên đất canh tác ấy [85, 31, tr.242]. Như vậy
việc quy định cư trú đối với người Hoa của triều Nguyễn không phải lúc nào cũng
được thực hiện triệt để.
3.2. VỀ TỔ CHỨC BANG VÀ MINH HƯƠNG XÃ:
Như trên đã nêu, việc nhập cảnh, cư trú và nhiều lãnh vực khác trong nội
dung chính sách đối với người Hoa của triều Nguyễn, đặc biệt là về chính sách
thuế, đều gắn liền với tổ chức bang và người Minh Hương cũng như đơn vị hành
chánh tên là Minh Hương.
Dưới thời các chúa Nguyễn, ở Đàng Trong chưa có tổ chức bang. Đàng
Ngoài càng hoàn toàn không có tổ chức này. Người Hoa lúc này cư trú tập trung
trong những đơn vị hành chánh tên Minh Hương xã và Thanh Hà phố ở Thuận
Hoá, Hội An, Phiên trấn... Đến năm 1789, Nguyễn Ánh đã cử viên Khâm sai
Chưởng cơ dinh Trung quân quản đạo Toàn dũng là Trần Công Dẫn, vốn là người
Thanh cai quản tất cả mọi người Hoa mới, cũ ở các dinh trấn thuộc Gia Định,
không phân biệt quê quán địa phương nào từ Trung Quốc đến. Đồng thời Nguyễn
Ánh còn cho ghi tên lập sổ tất cả người Hoa trong vùng. Nhưng ngay năm sau,
năm 1790, tình hình đã có sự thay đổi: vào tháng 2, Nguyễn Ánh khi ra lệnh cho
các dinh làm lại sổ Tiêu bạ (sổ hộ tịch), đã cho "...những người Đường thuộc các
tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, Triều Châu, Thượng Hải ngụ ở trong hạt,
mỗi tỉnh (gọi dinh thì đúng hơn) đặt một người Cai phủ và một người Ký phủ, rồi
chiếu theo số hiện tại, hay làm binh, hay làm dân, làm thành hai sổ do Binh bộ
hay Hộ bộ phê chữ làm bằng..." [85, 02, tr.111]. Đây chính là cơ sở pháp lý đầu
tiên cho việc hình thành các tổ chức bang vì đã bước đầu có chú ý phân loại người
Hoa theo địa phương quê quán. Tuy nhiên ở thời điểm này, với chỉ dụ này, tổ chức
bang vẫn chưa hình thành vì mỗi địa phương chỉ mới đặt một Cai phủ và một Ký
phủ người Việt để trông coi chung tất cả mọi người Hoa thuộc mọi quê quán. Việc
xác định các bang được chính thức thành lập từ khi nào, đến nay, qua các công
trình nghiên cứu của nhiều tác giả, câu hỏi này vẫn còn chưa có lời giải đáp cụ
thể. Từ bang chỉ được ghi vào chính sử triều Nguyễn lần đầu tiên vào năm 1810
khi Gia Long "...sai bang trưởng Quảng Đông là Hà Đạt Hoà thuê ba người thợ
làm ngói ở Quảng Đông khiến nung ngói lưu ly các sắc xanh vàng lục ở khố
thượng..." [85, 04, tr.97]. Nhưng điều đó không có nghĩa la ø phải đến năm 1810 thì
tổ chức bang mới được hình thành. Theo Trần Kinh Hoà, tổ chức bang người Hoa
chắc chắn đã hình thành trong khoảng thời gian từ năm 1802 đến năm 1807 là năm
xây dựng tấm bia ghi việc trùng tu chợ Dinh ở Phúc Kiến hội quán. Theo ông thì
"...tấm bia ấy do đương thời các bang trưởng Hứa Tân Phát, Tổng lý Hầu Hoà
Lợi, Tú tài Nguyễn Cố Thịnh 51 người dựng lên, đủ thấy thời Gia Long năm thứ 6,
1807 đã có bang trưởng. Vậy thì chế độ bang trưởng đặt vào khoảng từ Gia Long
nguyên niên đến lục niên (1802-1807) không còn hoài nghi gì nữa..." [30, tr.120].
Ý kiến trên rất đáng lưu ý.
Từ năm 1802 đến năm 1807 Gia Long đã tiến hành nhiều công việc quan
trọng để quản lý đất nước sau chiến tranh. Trong đó có 2 công việc lớn tiến hành
năm 1803 là định thuế tô, dung (thuế điền và thuế đinh) và định điều cấm về việc
ẩn lậu suất đinh. Cả hai công việc này đều có liên quan đến người Hoa mới, cũ và
liên quan khá chặt chẽ với tổ chức bang và chức vụ bang trưởng sau này. Có thể,
tổ chức bang người Hoa đã chính thức hình thành trong năm 1803 bằng một chỉ dụ
nào đó của Gia Long mà đến nay giới nghiên cứu chưa tìm ra.
Các tài liệu của triều Nguyễn có được cho thấy tổ chức bang là tập hợp của
những người đồng hương và cùng một phương ngữ Trung Hoa. Như vậy thì thời
triều Nguyễn có các bang là bang Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam;
không chắc là đã có bang Thượng Hải hay không. Không phải tỉnh nào cũng có đủ
các bang đó mà có thể, do số lượng người không đủ để thành lập các bang khác
nhau thì chỉ lập một bang chung cho nhiều người Hoa khác nhau về quê quán và
phương ngữ, lập sổ chung gọi là sổ hàng bang. Sau này dần dần có thêm người di
cư đến sẽ lập bang riêng. Số lượng người đủ để thành lập một bang, theo một chỉ
dụ của Thiệu Trị vào tháng 4 năm 1842 cho tỉnh thần Nam Định thì tối thiểu phải
là 20 người [85, 24, tr.358]. Điều đó cho thấy, mục đích ban đầu của triều Nguyễn
khi cho lập tổ ch
Download miễn phí Luận án Chính sách của các vương triều Việt Nam đối với người Hoa
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
MỤC LỤC
DẪN LUẬN trang 01
CHƯƠNG 1: CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI HOA CỦA CÁC VƯƠNG TRIỀU VIỆT NAM TỪ THỜI LÝ, TRẦN TRỞ VỀ TRƯỚC17
1.1 KIỂM SOÁT VÀ HẠN CHẾ NHẬP CẢNH NHƯNG CÓ ƯU TIÊN NỚI LỎNG VỚI NHỮNG ĐỐI TƯỢNG ĐẶC BIỆT19
1.2. TUỲ VÀO TỪNG ĐỐI TƯỢNG MÀ TẬP TRUNG HAY KHÔNG TẬP TRUNG CƯ TRÚ
23
1.3. TRÂN TRỌNG ƯU ĐÃI CÁC TRÍ THỨC NHO GIÁO VÀ PHẬT GIÁO25
1.4. KHÔNG KỲ THỊ, ÁP CHẾ VỀ VĂN HOÁ 31
1.5. AN NINH QUỐC GIA LÀ TỐI THƯỢNG 32
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI HOA CỦA CÁC VƯƠNG TRIỀU VIỆT NAM THỜI KỲ TỪ SAU MINH THUỘC ĐẾN ĐẦU TRIỀU NGUYỄN39
2.1. CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI HOA CỦA CHÍNH QUYỀN LÊ-TRỊNH Ở ĐÀNG NGOÀI 40
2.2. CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI HOA CỦA CHÍNH QUYỀN BẮC TRIỀU HỌ MẠC
2.3. CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN ĐÀNG TRONG ĐỐI VỚI NGƯỜI HOA
2.4. CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN TÂY SƠN ĐỐI VỚI NGƯỜI HOA75
CHƯƠNG 3: CHÍNH SÁCH CỦA TRIỀU NGUYỄN ĐỐI VỚINGƯỜI HOA89
3.1. KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ VỀ NHẬP CẢNH VÀ CƯ TRÚ91
3.2. VỀ TỔ CHỨC BANG VÀ MINH HƯƠNG XÃ 99
3.3. PHÂN ĐỊNH RIÊNG BIỆT VỀ LỆ THUẾ 106
3.4. NHỮNG ƯU ĐÃI VÀ CÂM ĐOÁN VỀ KINH TẾ 125
3.5. NHU VIỄN 139
3.6. NHỮNG THẾ HỆ NGƯỜI MINH HƯƠNG 148
3.7. ĐỐI PHÓ VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA 161
KẾT LUẬN 179
CHÚ GIẢI 190
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-22-luan_an_chinh_sach_cua_cac_vuong_trieu_viet_nam_do.PeCl7PWiLm.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-41512/
Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung:
ua triều Nguyễn cho thấy có sự quy định cư trú và sự phân biệt hai đốitượng là người Thanh ở các bang và người Minh Hương ở các Minh Hương xã.
Nhiều tỉnh thành trong cả nước có Minh Hương xã. Việc cư trú của người Thanh
thuộc các bang ở các địa phương nhìn chung là có sự bố trí riêng biệt với người
Việt và người Minh Hương để dễ dàng kiểm soát và đánh thuế. Ngay từ thời Gia
Long, người Thanh ở Hà Tiên đã được bố trí ở tập trung thành một khu vực riêng
biệt gồm 6 phố, sở, xóm, thuộc như Minh Bột Đại phố, Minh Bột Kỳ Thụ phố,
Minh Bột Lư Khê sở, Minh Bột Thổ Khâu xóm... [77, tr.138]. Trong khi đó, ở Hà
Tiên có đến mấy đơn vị hành chánh tên là Minh Hương nằm rải rác nhiều vùng.
Tuy nhiên, nguyên tắc bố trí cư trú riêng biệt này không phải lúc nào cũng được
thực hiện. Những người Hoa được chiêu mộ khai khẩn đất hoang ở Tô Châu, Hà
Tiên vẫn sống chung đụng với các sắc dân khác. Riêng người Hoa ở Trấn Tây thì
triều Nguyễn lại chủ trương để cư trú chung lẫn với người Việt. Điều này được vua
Minh Mạng chỉ dụ vào tháng 8 năm 1839 như sau: "...nay các huyện sở tại đã bổ
quan kinh thì nên sức hỏi trong hạt nếu có dân kinh lưu ngụ và người nước Thanh
đầu ngụ đều cho đến hai bên tả hữu huyện lỵ làm nhà ở mà sinh nhai làm ăn rồi
chiếu theo số người nhiều ít mà lập thành thôn ấp, để cho họ tiêm nhiễm lẫn nhau
đều thành ra dân kinh, bất tất phải dồn riêng người nước Thanh làm bang hộ
nữa..." [85, 21, tr.172]. Đến thời Tự Đức, quy định về nhập cư đối với người Hoa
có dễ dàng hơn. Năm Tự Đức thứ hai, 1849, vua đã chấp thuận tờ sớ của Nguyễn
tri Phương đề nghị: "...người nước Thanh tự đến tình nguyện lưu ở 6 tỉnh Nam kỳ,
hễ đích xác có dân trong bang hay dân Minh Hương ở hạt ấy bảo nhận thì cho
phép trú ngụ ở đấy và khoan miễn thuế lệ 3 năm. Trong đó, hay có người nào xin
vào sổ dân trong bang hay xin chiểu các chỗ đất bỏ không dựng ấp khẩn ruộng
chịu thuế, đều cho tuỳ tiện..." [85, 26, tr.183]. Như vậy đến đây, việc nhập cảnh
đã không còn gắn chặt với đăng ký và xếp đặt cư trú. Tư liệu sau đây càng chứng
minh điều đó: Năm Tự Đức thứ 21 (1868), do bị giặc cướp đánh phá, dân chúng
tổng Hà Môn, Quảng Yên chạy sang trú tránh ở châu Khâm nước Thanh và đem
hết ruộng đất nhà (ở Hà Môn) bán cho người Thanh ở Khâm Châu. Sau đó số
người Thanh ấy xin sang làm nhà ở để canh tác số ruộng đất ấy. Tất cả có 18 hộ,
xin cất 18 căn nhà. Vua y cho, sai cả người và hộ đặt làm một đoàn, cử một người
làm đoàn trưởng và cho phép cư trú trên đất canh tác ấy [85, 31, tr.242]. Như vậy
việc quy định cư trú đối với người Hoa của triều Nguyễn không phải lúc nào cũng
được thực hiện triệt để.
3.2. VỀ TỔ CHỨC BANG VÀ MINH HƯƠNG XÃ:
Như trên đã nêu, việc nhập cảnh, cư trú và nhiều lãnh vực khác trong nội
dung chính sách đối với người Hoa của triều Nguyễn, đặc biệt là về chính sách
thuế, đều gắn liền với tổ chức bang và người Minh Hương cũng như đơn vị hành
chánh tên là Minh Hương.
Dưới thời các chúa Nguyễn, ở Đàng Trong chưa có tổ chức bang. Đàng
Ngoài càng hoàn toàn không có tổ chức này. Người Hoa lúc này cư trú tập trung
trong những đơn vị hành chánh tên Minh Hương xã và Thanh Hà phố ở Thuận
Hoá, Hội An, Phiên trấn... Đến năm 1789, Nguyễn Ánh đã cử viên Khâm sai
Chưởng cơ dinh Trung quân quản đạo Toàn dũng là Trần Công Dẫn, vốn là người
Thanh cai quản tất cả mọi người Hoa mới, cũ ở các dinh trấn thuộc Gia Định,
không phân biệt quê quán địa phương nào từ Trung Quốc đến. Đồng thời Nguyễn
Ánh còn cho ghi tên lập sổ tất cả người Hoa trong vùng. Nhưng ngay năm sau,
năm 1790, tình hình đã có sự thay đổi: vào tháng 2, Nguyễn Ánh khi ra lệnh cho
các dinh làm lại sổ Tiêu bạ (sổ hộ tịch), đã cho "...những người Đường thuộc các
tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, Triều Châu, Thượng Hải ngụ ở trong hạt,
mỗi tỉnh (gọi dinh thì đúng hơn) đặt một người Cai phủ và một người Ký phủ, rồi
chiếu theo số hiện tại, hay làm binh, hay làm dân, làm thành hai sổ do Binh bộ
hay Hộ bộ phê chữ làm bằng..." [85, 02, tr.111]. Đây chính là cơ sở pháp lý đầu
tiên cho việc hình thành các tổ chức bang vì đã bước đầu có chú ý phân loại người
Hoa theo địa phương quê quán. Tuy nhiên ở thời điểm này, với chỉ dụ này, tổ chức
bang vẫn chưa hình thành vì mỗi địa phương chỉ mới đặt một Cai phủ và một Ký
phủ người Việt để trông coi chung tất cả mọi người Hoa thuộc mọi quê quán. Việc
xác định các bang được chính thức thành lập từ khi nào, đến nay, qua các công
trình nghiên cứu của nhiều tác giả, câu hỏi này vẫn còn chưa có lời giải đáp cụ
thể. Từ bang chỉ được ghi vào chính sử triều Nguyễn lần đầu tiên vào năm 1810
khi Gia Long "...sai bang trưởng Quảng Đông là Hà Đạt Hoà thuê ba người thợ
làm ngói ở Quảng Đông khiến nung ngói lưu ly các sắc xanh vàng lục ở khố
thượng..." [85, 04, tr.97]. Nhưng điều đó không có nghĩa la ø phải đến năm 1810 thì
tổ chức bang mới được hình thành. Theo Trần Kinh Hoà, tổ chức bang người Hoa
chắc chắn đã hình thành trong khoảng thời gian từ năm 1802 đến năm 1807 là năm
xây dựng tấm bia ghi việc trùng tu chợ Dinh ở Phúc Kiến hội quán. Theo ông thì
"...tấm bia ấy do đương thời các bang trưởng Hứa Tân Phát, Tổng lý Hầu Hoà
Lợi, Tú tài Nguyễn Cố Thịnh 51 người dựng lên, đủ thấy thời Gia Long năm thứ 6,
1807 đã có bang trưởng. Vậy thì chế độ bang trưởng đặt vào khoảng từ Gia Long
nguyên niên đến lục niên (1802-1807) không còn hoài nghi gì nữa..." [30, tr.120].
Ý kiến trên rất đáng lưu ý.
Từ năm 1802 đến năm 1807 Gia Long đã tiến hành nhiều công việc quan
trọng để quản lý đất nước sau chiến tranh. Trong đó có 2 công việc lớn tiến hành
năm 1803 là định thuế tô, dung (thuế điền và thuế đinh) và định điều cấm về việc
ẩn lậu suất đinh. Cả hai công việc này đều có liên quan đến người Hoa mới, cũ và
liên quan khá chặt chẽ với tổ chức bang và chức vụ bang trưởng sau này. Có thể,
tổ chức bang người Hoa đã chính thức hình thành trong năm 1803 bằng một chỉ dụ
nào đó của Gia Long mà đến nay giới nghiên cứu chưa tìm ra.
Các tài liệu của triều Nguyễn có được cho thấy tổ chức bang là tập hợp của
những người đồng hương và cùng một phương ngữ Trung Hoa. Như vậy thì thời
triều Nguyễn có các bang là bang Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam;
không chắc là đã có bang Thượng Hải hay không. Không phải tỉnh nào cũng có đủ
các bang đó mà có thể, do số lượng người không đủ để thành lập các bang khác
nhau thì chỉ lập một bang chung cho nhiều người Hoa khác nhau về quê quán và
phương ngữ, lập sổ chung gọi là sổ hàng bang. Sau này dần dần có thêm người di
cư đến sẽ lập bang riêng. Số lượng người đủ để thành lập một bang, theo một chỉ
dụ của Thiệu Trị vào tháng 4 năm 1842 cho tỉnh thần Nam Định thì tối thiểu phải
là 20 người [85, 24, tr.358]. Điều đó cho thấy, mục đích ban đầu của triều Nguyễn
khi cho lập tổ ch