huycoi204yb

New Member
Khóa luận Quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Liên Bang Nga

Download miễn phí Khóa luận Quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Liên Bang Nga





Quan hệ giữa hai nước bị ngưng trệ do những khó khăn của cải cách trong các năm 1998 - 1992, chỉ sau đó ít lâu Việt Nam đã chủ động nối lại và có những hoạt động tích cực nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam - Liên bang Nga trên một cơ sở mới. Thời kỳ này được đánh dấu bởi các cuộc viếng thăm của nhiều đoàn đại biểu cấp cao Nhà nước, Quốc hội và chính phủ các bộ, các ngành của CHXHCN Việt Nam tới Liên bang Nga, và đã ký kết được nhiều văn kiện hợp tác quan trọng mà nội dung trong đó có việc xác định các nguyên tắc quan hệ mới và những lĩnh vực hợp tác cùng có lợi. Nội dung của Hiệp định ngày 16/7/1991 đã phản ánh những nguyên tắc cơ bản của hợp tác kinh tế nói chung và của lĩnh vực đầu tư trực tiếp Việt Nam- Liên bang Nga trong thời kỳ kinh tế thị trường mở cửa: là bình đẳng, cùng có lợi và tôn trọng pháp luật nước chủ nhà cũng như thông lệ quốc tế; xí nghiệp liên doanh (XNLD) hoạt động trên cơ sở hoạch toán kinh doanh kinh tế độc lập, tự cấp vốn và hoàn vốn; được mở rộng quyền hạn và trách nhiệm trong quản lý đầu vào cũng như hiệu quả cuối cùng, có công tác xuất khẩu; phải trả tiền thuê mặt đất hay mặt nước và mặt biển trong khu chính của mình cho nước chủ nhà; phải nộp thuế cho Nhà nước CHXHCN Việt Nam theo Luật đầu tư nước ngoài; thời hạn hoạt động của XNLD là 20 năm kể từ 1/1/1991; vốn pháp định của XNLD chuyển từ góp vốn bằng hiện vật sang góp vốn bằng tiền (theo hiệp định là 1500 triệu USD và phần của mỗi bên là 750 triệu USD); cũng từ đây đồng tiền để hoạch toán trong kinh doanh đó là đôla; XNLD được để lại không quá 35% khối lượng sản phẩm hàng hóa trong năm để cấp vốn bổ sung; có quyền ký các hợp đồng nhập khẩu phục vụ cho sản xuất của mình; Tổng giám đốc phải là công dân Việt Nam.
 



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

ép các loại. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế thì trong thời gian tới các mặt hàng này vẫn tiếp tục là các mặt hàng ưu tiên Việt Nam nhập khẩu từ Liên bang Nga. Điều này được đưa ra trên cơ sở, một mặt là vì phía Nga đã có uy tín và quan hệ lâu năm với thị trường Việt Nam về mặt hàng này. Mặt khác, chất lượng và giá cả các hàng hoá này của LB Nga thực sự vẫn có khả năng cạnh tranh cao so với các nguồn cung cấp khác trên thế giới.
Ngược lại với nhập khẩu, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu tăng dần qua các năm. Năm 2001 tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang Liên Bang Nga chiếm khoảng 0,9%. Năm 2002 tỷ trọng này đã tăng lên đến 1,13%. Điều này thể hiện những nỗ lực rất lớn của chúng ta trong việc đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Liên bang Nga.
Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nga các nguyên liệu như cao su, đồ gia vị và các mặt hàng thực phẩm như chè, cà phê, gạo, thịt, mì ăn liền và nhu yếu phẩm. Năm 2000 Việt Nam xuất khẩu sang Liên bang Nga tổng số hàng hoá trị giá 122,5 triệu USD nhưng sang năm 2001 con số đó đã tăng thêm gần 70%. Năm 2002 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Liên bang Nga đạt 187 triệu USD. Năm 2002 Việt Nam đã xuất khẩu vào thị trường Nga 213 nghìn tấn gạo; 5.582nghìn tấn hạt tiêu…Nhìn chung các sản phẩm rau quả hộp, hàng thủ công mỹ nghệ …đều tăng đáng kể.
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam là khá cao, đặc biệt năm 2001 đạt 58,7%, cao nhất trong 10 năm trở lại đây. Năm 2002 đã có bước nhảy vọt về tổng giá trị cũng như những chuyển biến đáng kể về cơ cấu ngành hàng xuất khẩu. Các mặt hàng truyền thống trước đây được ưu tiên xuất khẩu như cà phê, cao su, chè, gạo, giầy dép, hải sản, hàng dệt may, rau quả và thực phẩm không còn giữ vị trí độc tôn nữa. Ngày càng có nhiều mặt hàng tham gia xuất khẩu sang thị trường Nga. Những năm gần đây, Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu sang Liên bang Nga những mặt hàng mà thị trường Nga có lợi thế tuyệt đối như dầu ăn, gỗ, nhựa, xe đạp và đồ chơi trẻ em. Đặc biệt là hàng hải sản, thủ công mỹ nghệ, rau quả khô và tươi của Việt Nam đã bắt đầu được thị trường Nga chấp nhận, trong đó hạt điều, hạt tiêu là 2 mặt hàng có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất.
Bảng 16: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Liên bang Nga
Mặt hàng
Đơn vị
2000
2001
2002
8 tháng đầu 2003
Cà phê
Tấn
553
….
1.133
859
Cao su
1000tấn
20,6
15,4
7,5
7,1
Chè
Tấn
1.785
4.726
3.622
2.099
Dầu ăn
Tấn
….
….
24.971
22.548
Gạo
Tấn
76.090
204.995
212.748
235.730
Giầy dép các loại
1000USD
10.158
15.626
12.182
5.667
Hải sản
1000USD
77
….
1.697
2.791
Hàng dệt may
1000USD
32.582
48.181
50.879
21.774
Hàng rau quả
1000USD
465,4
….
8.505,7
3.647,4
Thủ công mỹ nghệ
USD
….
….
1.615.596
….
Hạt điều
Tấn
….
….
626.998
….
Hạt tiêu
Tấn
….
1290
5.582.225
….
Sản phẩm gỗ
1000USD
….
190
356,7
….
Sản phẩm nhựa
1000USD
….
4.329
5.690,8
….
Xe đạp và phụ tùng xe đạp
1000USD
….
112
1.105,7
….
Nguồn: Báo cáo tổng hợp 8 tháng đầu năm 2003 của Bộ thương mại
Tính đến năm 2000, Liên Bang Nga đứng thứ 21 về xuất khẩu và đứng thứ 14 về nhập khẩu của Việt Nam, còn quá thấp so với tiềm năng và thế mạnh của hai nước.
Do bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực sẽ còn suy giảm, ảnh hưởng không nhỏ đến sự tăng trưởng xuất khẩu của các mặt chủ yếu như dệt may, da giầy, hàng điện tử, hàng nông sản… thì việc đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Nga là một vấn đề trọng tâm. Điều này xuất phát từ thực tế là sau một thời gian dài suy thoái, nền kinh tế Nga đã đạt được thành tựu tăng trưởng bền vững trong vài năm gần đây. Cụ thể, GDP năm 1999 tăng 3,2%, năm 2000 với mức nhảy vọt 7,6%, năm 2001 đạt 5,2%, năm 2002 đạt 4,3%. Điều này chứng tỏ thị trường Nga ngày càng phát triển ổn định và Liên bang Nga sẽ là một thị trường có triển vọng đang lên và nhu cầu chắc chắn vẫn tiếp tục tăng. Mặt khác, việc đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này không những giúp nước ta có thêm thị trường để phát triển sản xuất mà còn có thể giảm mạnh được tỷ lệ nhập siêu đã quá lớn hiện nay.
Một trong những biện pháp thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường Nga hiện nay đó là việc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB) đã không ngừng cấp các khoản tín dụng cho doanh nghiệp nhập khẩu Nga, cải thiện cách thanh toán. Năm 2000, lần đầu tiên VCB đã cấp hạn mức tín dụng trị giá 30 triệu USD cho Liên bang Nga mua hàng xuất khẩu của Việt Nam, “các doanh nghiệp Nga mua hàng Việt Nam, nếu thanh toán qua Ngân hàng Ngoại thương Liên bang Nga bằng những hình thức như L/C, thuê bảo lãnh …sẽ nhận được hàng ngay. Trong trường hợp Ngân hàng ngoại thương Liên bang Nga không có trong tay lượng ngoại tệ cần thiết để thanh toán cho phía Việt Nam và giao dịch có giới hạn tối đa 30 triệu USD, VCB sẽ ứng trước trả tiền cho doanh nghiệp Việt Nam đồng thời ghi “nợ” tài khoản Ngân hàng Ngoại thương Liên bang Nga với một thời gian nhất định” (theo lời bà Nguyễn Thu Hà - Phó Tổng giám đốc VCB ). Trong khi việc các doanh nghiệp Nga rất khó khăn về vốn, các ngân hàng gặp khó khăn trong cách thanh toán thì cách mua hàng trả chậm này đã cung cấp thêm nguồn tài chính mới cho các doanh nghiệp Nga nhập khẩu hàng Việt Nam.
Thực hiện chủ trương của Chính phủ, nhằm tăng cường hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Liên bang Nga cũng như góp phần thúc đẩy thương mại hai nước phát triển, ngày 3/ 7/ 2002 tại Matxcơva, trong khuôn khổ Kỳ họp lần thứ 2 của Tổ công tác hợp tác Ngân hàng Nga – Việt, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (VCB) và Ngân hàng quốc tế Matxcơva (IMB) đã ký Hiệp định khung tài trợ thương mại giữa hai ngân hàng. Hiệp định có hiệu lực 3 năm kể từ ngày ký này là bước cụ thể hoá của Biên bản ghi nhớ ngày 27/3/2002 trong đó VCB cam kết cung cấp cho IMB một hạn mức tín dụng trị giá 20 triệu USD. Trên cơ sở các điều kiện và điều khoản của Hiệp định khung, các nhà xuất khẩu của Việt Nam sẽ được đảm bảo cao nhất về khả năng thu hồi vốn nhanh khi xuất hàng sang Liên bang Nga. Còn đối với các doanh nghiệp Nga, hạn mức tín dụng với mức lãi suất ưu đãi giúp họ giảm chi phí hàng nhập khẩu, qua đó làm tăng tính cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam tại thị trường Nga. Cụ thể, trong trường hợp các hợp đồng xuất khẩu sang thị trường Nga được thanh toán bằng L/C trả tiền ngay mở tại IMB, khi các nhà xuất khẩu Việt Nam xuất trình chứng từ phù hợp với L/C tại hệ thống VCB, VCB sẽ thanh toán trực tiếp ngay cho nhà xuất khẩu toàn bộ số tiền ghi trong hoá đơn thương mại mà không phải chờ xác nhận hối phiếu từ phía Ngân hàng mở L/C (IMB). Có thể nói, đây là hình thức hỗ trợ vốn rất kịp thời cho các nhà nhập khẩu Nga, cũng như là biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Nga.
3. Đánh giá chung.
Trong thời gian qua Việt Nam và Liên bang Nga đã có nhiều cố gắng tìm mọi giải pháp để thúc đẩy quan hệ mậu dịch, bước đầu đã có những kết quả nhất định. Quan hệ buôn bán hai chiều giữa Việt Nam và Liên Bang N...
 

daigai

Well-Known Member
Trích dẫn từ daonam32:
Bạn ơi gửi mình xin tài liệu này được không, Thank bạn nhiều


bạn download tại đây nhé
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác
Tạo bởi Tiêu đề Blog Lượt trả lời Ngày
I Nội dung quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển lực lượng sản xuất và vận dụng ở nước ta Luận văn Kinh tế 0
P Vấn đề khu vực hoá-Mối quan hệ hợp tác Á-Âu (ASEM) và Việt Nam trong tiến trình ASEM Khoa học Tự nhiên 0
T Quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư Việt Nam - Pháp giai đoạn 1994 - 2001 Luận văn Kinh tế 0
X Ba phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản, quan hệ sản xuất phải phự hợp với trỡnh độ phỏt triển của lực lượng sản xuất Luận văn Kinh tế 0
Q Đánh giá tổng quan quan hệ Việt Nam - Lào 1954 - 2000 và phương hướng hợp tác giữa hai nước trong giai đoạn mới Luận văn Sư phạm 3
S Góp phần nghiên cứu quan hệ cấu trúc - tác dụng của một số hợp chất Luận văn Sư phạm 0
J Mô hình cơ sở dữ liệu quan hệ và mô hình cơ sở dữ liệu hướng đối tượng (Báo cáo tổng hợp Đề tài nghiên cứu khoa học đo Khoa quản lý cấp DI 1QG Hà nội) Luận văn Sư phạm 0
G Xây dựng bản đồ nhạy cảm của các hệ sinh thái với tác động môi trường nhằm sử dụng hợp lý cảnh quan Luận văn Sư phạm 2
H Nghiên cứu mối quan hệ giữa động cơ học tập và kết quả học tập của sinh viên trường cao đẳng sư phạm (Nghiên cứu trường hợp trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ninh) Luận văn Sư phạm 2
N Mối quan hệ giữa chính sách lương, thưởng và động lực làm việc nghiên cứu trường hợp xí nghiệp quản lý và phát triển nhà Hoàn Kiếm Luận văn Kinh tế 0

Các chủ đề có liên quan khác

Top