lop9c0708_pro
New Member
LINK TẢI LUẬN VĂN MIỄN PHÍ CHO AE KET-NOI
PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ
Như chúng ta đã biết, xã hội loài người phát triển trải qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội nối tiếp nhau. Sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội vừa bị chi phối bởi các quy luật phổ biến, vừa bị chi phối bởi các quy luật riêng, đặc thù. Các quy luật vận động phát triển phổ biến của xã hội là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng. Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt cấu thành của hình thái kinh tế - xã hội, chúng thống nhất với nhau, tác động qua lại biện chứng lẫn nhau. Trong một xã hội có giai cấp, Nhà nước là yếu tố tác động phát triển nhất đối với cơ sở hạ tầng vì nó là biểu hiện quyền lực tập trung của giai cấp thống trị về kinh tế.
Ở Việt Nam, việc điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước thông qua các chính sách kinh tế và các chính sách xã hội là cần thiết và tất yếu nhằm đạt mục tiêu phát triển xã hội, hạn chế và khắc phục các khuyết tật của nền kinh tế, nhất là nền kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, tác động như thế nào, tác động ra sao để các chính sách kinh tế, xã hội vừa đảm bảo được các mục tiêu phát triển, vừa không đi ngược lại các quy luật khách quan ?
Chính vì vậy, việc nghiên cứu quan hệ biện chứng giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong giai đoạn phát triển hiện nay ở nước ta là cần thiết.
Với những hiểu biết có hạn về mặt lý luận, tui chỉ xin đưa ra một số vấn đề chính mang tính tổng hợp dựa trên thực tiễn và sự hiểu biết của mình. Kính mong thầy giáo PGS –TS Đoàn Quang Thọ sửa chữa, bổ sung góp ý để tui có thể hiểu sâu sắc hơn và có cơ sở để vận dụng vào công việc trong tương lai.
PHẦN B: NỘI DUNG
I. PHẦN LÝ LUẬN
1- Xã hội là gì?
Sự hình thành con người gắn liền với sự hình thành các quan hệ giữa người, quá trình chuyển biến từ động vật thành người cũng là quá trình chuyển biến từ cộng đồng mang tính bầy đàn, hành động theo bản năng thành một cộng đồng khác hẳn về chất gọi là xã hội.
Vậy thực chất xã hội là biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân “ là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa con người với con người” C. Mác và Angghen toàn tập
Với tư cách là một bộ phận đặc thù của tự nhiên, xã hội vừa phải tuân theo những quy luật tự nhiên vừa phải tuân theo những quy luật vốn có đối với xã hội.
Quy luật xã hội là những quy luật hoạt động của con người theo đuổi mục đích của mình. Tuy vậy, nhưng quy luật này vẫn mang tính khách quan, thể hiện ở chỗ xã hội được biểu hiện thông qua hoạt động của con người nhưng nó không phụ thuộc vào ý chí, ý thức của bất kỳ một cá nhân hay một lực lượng xã hội nào. Bởi vì bằng hoạt động thực tiễn, con người tạo ra xã hội làm nên lịch sử song những hoạt động của con người được thực hiện trong những điều kiện sinh hoạt vật chất nhất định, trong những mối quan hệ nhất định giữa con người với con người và giữa con người với giới tự nhiên mà những điều kiện và những mối quan hệ đó là khách quan đối với mỗi thời đại mỗi dân tộc mỗi thế hệ, mỗi con người khi họ theo đuổi mục đích của bản thân mình.
Quy luật xã hội thường biểu hiện ra như những xu hướng, mang tính xu hướng. Những mối liên hệ và sự tác động lẫn nhau vô cùng phức tạp giữa người với người đã tạo ra những hoạt động khác nhau trong xã hội. Tổng hợp những lực tác động lẫn nhau đó tạo thành xu hướng vận động của lịch sử. Xu hướng này là khách quan không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất kỳ lực lượng xã hội nào.
Quy luật xã hội tồn tại và tác động trong những điều kiện nhất định. Khi những điều kiện tồn tại tất yếu của quy luật xã hội mất đi thì quy luật cũng không còn tồn tại. Chẳng hạn đấu tranh giai cấp là một trong những động lực của lịch sử, là quy luật của các xã hội có sự đối kháng giai cấp. Quy luật đấu tranh giai cấp đó sẽ chấm dứt hoạt động khi xã hội chấm dứt sự phân chia thành những giai cấp đối kháng.
Sự tác động của quy luật xã hội diễn ra thông qua hoạt động của con người. Động lực cơ bản thúc đẩy con người hoạt động trong mọi thời đại, mọi xã hội là lợi ích của chủ thể hoạt động. Do vậy lợi ích trở thành yếu tố quan trọng trong cơ chế hoạt động của quy luật xã hội và sự nhận thức của con người về nó.
Biểu hiện và tác động của quy luật xã hội thường diễn ra trong một thời gian rất lâu, có khi là trong suốt quá trình lịch sử. Quy luật xã hội luôn tác động ngoài nguyện vọng và ý chí của con người. Khi con người chưa ý thức và chưa vận dụng được quy luật thì chúng tác động như một lực lượng tự phát và biến con người thành nô lệ của tính tất yếu. Khi con người đã nhận thức được những quy luật khách quan và những điều kiện hoạt động của chúng để vận dụng chúng vào hoạt động có mục đích của mình thì con người làm chủ được tính tất yếu, nghĩa là con người đạt đến tự do. Như vậy, tư do không có nghĩa là hoạt động tuỳ tiện, bất chấp quy luật mà trái lại là nhận thức được quy luật và làm theo quy luật. Quá trình phát triển xã hội là quá trình con người từng bước vươn tới tự do.
2- Những hoạt động cơ bản của xã hội
Tự nhiên là nguồn gốc của sự xuất hiện xã hội vừa là môi trường tồn tại và phát triển của xã hội, bởi vì tự nhiên cung cấp những điều kiện cần thiết cho đời sống con người và cung cấp các điều kiện cần thiết cho các hoạt động sản xuất xã hội.
Xã hội gắn bó với tự nhiên thông qua quá trình hoạt động thực tiễn của con người trước hết là quá trình lao động sản xuất. Lao đông là đặc trưng cơ bản đầu tiên để phân biệt con người với động vật. Lao động cũng là yếu tố đầu tiên cơ bản nhất, quan trọng nhất tạo nên sự thống nhất hữư cơ giữa xã hội với tự nhiên – Môi trường tồn tại của xã hội.
Từ những phân tích trên, sản xuất vật chất là cơ sở của tồn tại và phát triển xã hội. Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người. Sản xuất xã hội bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người. Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Theo F. Angghen “ điểm khác nhau căn bản giữa xã hội loài người với xã hội loài vật là ở chỗ loài vật may lắm chỉ là hái lượm, trong khi đó con người lại sản xuất”
Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người.
Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của mình, con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ các mặt của đời sống kinh tế xã hội. Tất cả các quan hệ xã hội về nhà nước, pháp quyền, đạo đức nghệ thuật, tôn giáo… đều hình thành biến đổi trên cơ sở sản xuất vật chất.
Trong quá trình sản xuất vật chất, con người không ngừng làm thay đổi tự nhiên, thay đổi xã hội đồng thời làm thay đổi bản thân mình. Sản xuất vật chất không ngừng phát triển. Sự phát triển của sản xuất vật chất quyết định sự thay đổi phát triển các mặt của đời sống xã hội, quyết định phát triển xã hội từ thấp đến cao. Chính vì vậy, nền sản xuất vật chất hay nền kinh tế là nền tảng của mọi xã hội, các mặt còn lại chịu sự chi phối trực tiếp của kinh tế và tác động ngược trở lại kinh tế.
3- Các khái niệm cơ bản của nền sản xuất vật chất.
* cách sản xuất: cách sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người.
Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một cách sản xuất nhất định, sự thay thế kế tiếp nhau của các cách sản xuất quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao. Trong sản xuất con người có mối quan hệ với giới tự nhiên biểu hiện là lực lượng sản xuất và với con người biển hiện là quan hệ sản xuất. cách sản xuất chính là sự thông nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.
*) Lực lượng sản xuất: là năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của mình. Lực lượng sản xuất là sự kết hợp người lao động và tư liệu sản xuất.
Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn, là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngày nay, khoa học đã phát triển đến mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều thay đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Sức lao động là đặc trưng cho lao động hiện đại không chỉ là thói quen và kinh nghiệm mà là tri thức khoa học. Khoa học công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại.
PHẦN C: PHẦN KẾT LUẬN
Hình thái kinh tế xã hội là một hệ thống hoàn chỉnh có cấu trúc phức tạp trong đó, có các yếu tố cơ bản là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Mỗi yếu tố của hình thái – kinh tế xã hội có vị trí riêng và tác động qua lại lẫn nhau, thống nhất với nhau.
Nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa các mặt của hình thái kinh tế xã hội để có cách tác động vào các mặt của hình thái kinh tế xã hội thông qua các chính sách kinh tế và chính sách xã hội là cần thiết đối với sự phát triển của mỗi quốc gia mà Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Chúng ta cũng đã trải qua 30 năm để nghiên cứu và thực nghiệm quy luật xã hội này. Thực sự là: Việt nam đã tiếp cận được quy luật và đang phát triển.
Tuy nhiên, như đã đề cập ở phần lý luận các quy luật xã hội thực chất là sự liên hệ và tác động lẫn nhau vô cùng phức tạp giữa người với người và làm thay đổi lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Do vậy, những xu hướng biểu hiện của các quy luật luôn luôn vận động, biến đổi. Do vậy chúng ta phải luôn luôn nghiên cứu để thay đổi các chính sách kinh tế và chính sách xã hội cho phù hợp với sự vận động của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Nhưng thực tế, các chính sách là do nhận thức chủ quan của con người, và thường là đi sau sự vận đông của quy luật nên không thể tránh khỏi những hạn chế. Nhưng với Nhà nước Việt Nam, chế độ chính trị và với sự vặn mình của nền kinh tế như hiện nay, chúng tui tin chắc rằng Việt Nam sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu của mình.
MỤC LỤC
PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN B: NỘI DUNG 2
I. PHẦN LÝ LUẬN 2
1- Xã hội là gì? 2
2- Những hoạt động cơ bản của xã hội 3
4- Quy luật phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lưc lượng sản xuất. 4
5- Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng 5
6- Chính sách kinh tế và chính sách xã hội 6
II. CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ VÀ CÁC CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TÁC ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 6
1- Đối với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn trước thời kỳ đổi mới ( Giai đoạn 1979 -1986) 6
2- Thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay) 7
2.1. Về đổi mới cơ chế qua các kỳ đại hội 7
22.Các thành tựu kinh tế kinh tế cơ bản 7
23. Những vấn đề còn tồn tại: 9
3- Vận dụng lý luận về quan hệ biện chứng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong việc vận dụng kết hợp chính sách kinh tế và chính sách xã hội của nhà nước trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta. 9
31- Đánh giá ảnh hưởng của các chính sách kinh tế và xã hội đối với sự nghiệp xây dựng đất nước từ 1976 đến nay. 10
3.2- Vận dụng lý luận về quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong việc kết hợp chính sách kinh tế và chính sách xã hội của Nhà nước trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta. 12
PHẦN C: PHẦN KẾT LUẬN 18
Do Drive thay đổi chính sách, nên một số link cũ yêu cầu duyệt download.
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm vào Link, đợi vài giây sau đó bấm Get Website để tải:
PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ
Như chúng ta đã biết, xã hội loài người phát triển trải qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội nối tiếp nhau. Sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội vừa bị chi phối bởi các quy luật phổ biến, vừa bị chi phối bởi các quy luật riêng, đặc thù. Các quy luật vận động phát triển phổ biến của xã hội là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng. Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt cấu thành của hình thái kinh tế - xã hội, chúng thống nhất với nhau, tác động qua lại biện chứng lẫn nhau. Trong một xã hội có giai cấp, Nhà nước là yếu tố tác động phát triển nhất đối với cơ sở hạ tầng vì nó là biểu hiện quyền lực tập trung của giai cấp thống trị về kinh tế.
Ở Việt Nam, việc điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước thông qua các chính sách kinh tế và các chính sách xã hội là cần thiết và tất yếu nhằm đạt mục tiêu phát triển xã hội, hạn chế và khắc phục các khuyết tật của nền kinh tế, nhất là nền kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, tác động như thế nào, tác động ra sao để các chính sách kinh tế, xã hội vừa đảm bảo được các mục tiêu phát triển, vừa không đi ngược lại các quy luật khách quan ?
Chính vì vậy, việc nghiên cứu quan hệ biện chứng giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong giai đoạn phát triển hiện nay ở nước ta là cần thiết.
Với những hiểu biết có hạn về mặt lý luận, tui chỉ xin đưa ra một số vấn đề chính mang tính tổng hợp dựa trên thực tiễn và sự hiểu biết của mình. Kính mong thầy giáo PGS –TS Đoàn Quang Thọ sửa chữa, bổ sung góp ý để tui có thể hiểu sâu sắc hơn và có cơ sở để vận dụng vào công việc trong tương lai.
PHẦN B: NỘI DUNG
I. PHẦN LÝ LUẬN
1- Xã hội là gì?
Sự hình thành con người gắn liền với sự hình thành các quan hệ giữa người, quá trình chuyển biến từ động vật thành người cũng là quá trình chuyển biến từ cộng đồng mang tính bầy đàn, hành động theo bản năng thành một cộng đồng khác hẳn về chất gọi là xã hội.
Vậy thực chất xã hội là biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân “ là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa con người với con người” C. Mác và Angghen toàn tập
Với tư cách là một bộ phận đặc thù của tự nhiên, xã hội vừa phải tuân theo những quy luật tự nhiên vừa phải tuân theo những quy luật vốn có đối với xã hội.
Quy luật xã hội là những quy luật hoạt động của con người theo đuổi mục đích của mình. Tuy vậy, nhưng quy luật này vẫn mang tính khách quan, thể hiện ở chỗ xã hội được biểu hiện thông qua hoạt động của con người nhưng nó không phụ thuộc vào ý chí, ý thức của bất kỳ một cá nhân hay một lực lượng xã hội nào. Bởi vì bằng hoạt động thực tiễn, con người tạo ra xã hội làm nên lịch sử song những hoạt động của con người được thực hiện trong những điều kiện sinh hoạt vật chất nhất định, trong những mối quan hệ nhất định giữa con người với con người và giữa con người với giới tự nhiên mà những điều kiện và những mối quan hệ đó là khách quan đối với mỗi thời đại mỗi dân tộc mỗi thế hệ, mỗi con người khi họ theo đuổi mục đích của bản thân mình.
Quy luật xã hội thường biểu hiện ra như những xu hướng, mang tính xu hướng. Những mối liên hệ và sự tác động lẫn nhau vô cùng phức tạp giữa người với người đã tạo ra những hoạt động khác nhau trong xã hội. Tổng hợp những lực tác động lẫn nhau đó tạo thành xu hướng vận động của lịch sử. Xu hướng này là khách quan không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất kỳ lực lượng xã hội nào.
Quy luật xã hội tồn tại và tác động trong những điều kiện nhất định. Khi những điều kiện tồn tại tất yếu của quy luật xã hội mất đi thì quy luật cũng không còn tồn tại. Chẳng hạn đấu tranh giai cấp là một trong những động lực của lịch sử, là quy luật của các xã hội có sự đối kháng giai cấp. Quy luật đấu tranh giai cấp đó sẽ chấm dứt hoạt động khi xã hội chấm dứt sự phân chia thành những giai cấp đối kháng.
Sự tác động của quy luật xã hội diễn ra thông qua hoạt động của con người. Động lực cơ bản thúc đẩy con người hoạt động trong mọi thời đại, mọi xã hội là lợi ích của chủ thể hoạt động. Do vậy lợi ích trở thành yếu tố quan trọng trong cơ chế hoạt động của quy luật xã hội và sự nhận thức của con người về nó.
Biểu hiện và tác động của quy luật xã hội thường diễn ra trong một thời gian rất lâu, có khi là trong suốt quá trình lịch sử. Quy luật xã hội luôn tác động ngoài nguyện vọng và ý chí của con người. Khi con người chưa ý thức và chưa vận dụng được quy luật thì chúng tác động như một lực lượng tự phát và biến con người thành nô lệ của tính tất yếu. Khi con người đã nhận thức được những quy luật khách quan và những điều kiện hoạt động của chúng để vận dụng chúng vào hoạt động có mục đích của mình thì con người làm chủ được tính tất yếu, nghĩa là con người đạt đến tự do. Như vậy, tư do không có nghĩa là hoạt động tuỳ tiện, bất chấp quy luật mà trái lại là nhận thức được quy luật và làm theo quy luật. Quá trình phát triển xã hội là quá trình con người từng bước vươn tới tự do.
2- Những hoạt động cơ bản của xã hội
Tự nhiên là nguồn gốc của sự xuất hiện xã hội vừa là môi trường tồn tại và phát triển của xã hội, bởi vì tự nhiên cung cấp những điều kiện cần thiết cho đời sống con người và cung cấp các điều kiện cần thiết cho các hoạt động sản xuất xã hội.
Xã hội gắn bó với tự nhiên thông qua quá trình hoạt động thực tiễn của con người trước hết là quá trình lao động sản xuất. Lao đông là đặc trưng cơ bản đầu tiên để phân biệt con người với động vật. Lao động cũng là yếu tố đầu tiên cơ bản nhất, quan trọng nhất tạo nên sự thống nhất hữư cơ giữa xã hội với tự nhiên – Môi trường tồn tại của xã hội.
Từ những phân tích trên, sản xuất vật chất là cơ sở của tồn tại và phát triển xã hội. Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người. Sản xuất xã hội bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người. Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Theo F. Angghen “ điểm khác nhau căn bản giữa xã hội loài người với xã hội loài vật là ở chỗ loài vật may lắm chỉ là hái lượm, trong khi đó con người lại sản xuất”
Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người.
Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của mình, con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ các mặt của đời sống kinh tế xã hội. Tất cả các quan hệ xã hội về nhà nước, pháp quyền, đạo đức nghệ thuật, tôn giáo… đều hình thành biến đổi trên cơ sở sản xuất vật chất.
Trong quá trình sản xuất vật chất, con người không ngừng làm thay đổi tự nhiên, thay đổi xã hội đồng thời làm thay đổi bản thân mình. Sản xuất vật chất không ngừng phát triển. Sự phát triển của sản xuất vật chất quyết định sự thay đổi phát triển các mặt của đời sống xã hội, quyết định phát triển xã hội từ thấp đến cao. Chính vì vậy, nền sản xuất vật chất hay nền kinh tế là nền tảng của mọi xã hội, các mặt còn lại chịu sự chi phối trực tiếp của kinh tế và tác động ngược trở lại kinh tế.
3- Các khái niệm cơ bản của nền sản xuất vật chất.
* cách sản xuất: cách sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người.
Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một cách sản xuất nhất định, sự thay thế kế tiếp nhau của các cách sản xuất quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao. Trong sản xuất con người có mối quan hệ với giới tự nhiên biểu hiện là lực lượng sản xuất và với con người biển hiện là quan hệ sản xuất. cách sản xuất chính là sự thông nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.
*) Lực lượng sản xuất: là năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của mình. Lực lượng sản xuất là sự kết hợp người lao động và tư liệu sản xuất.
Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn, là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngày nay, khoa học đã phát triển đến mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều thay đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Sức lao động là đặc trưng cho lao động hiện đại không chỉ là thói quen và kinh nghiệm mà là tri thức khoa học. Khoa học công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại.
PHẦN C: PHẦN KẾT LUẬN
Hình thái kinh tế xã hội là một hệ thống hoàn chỉnh có cấu trúc phức tạp trong đó, có các yếu tố cơ bản là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Mỗi yếu tố của hình thái – kinh tế xã hội có vị trí riêng và tác động qua lại lẫn nhau, thống nhất với nhau.
Nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa các mặt của hình thái kinh tế xã hội để có cách tác động vào các mặt của hình thái kinh tế xã hội thông qua các chính sách kinh tế và chính sách xã hội là cần thiết đối với sự phát triển của mỗi quốc gia mà Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Chúng ta cũng đã trải qua 30 năm để nghiên cứu và thực nghiệm quy luật xã hội này. Thực sự là: Việt nam đã tiếp cận được quy luật và đang phát triển.
Tuy nhiên, như đã đề cập ở phần lý luận các quy luật xã hội thực chất là sự liên hệ và tác động lẫn nhau vô cùng phức tạp giữa người với người và làm thay đổi lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Do vậy, những xu hướng biểu hiện của các quy luật luôn luôn vận động, biến đổi. Do vậy chúng ta phải luôn luôn nghiên cứu để thay đổi các chính sách kinh tế và chính sách xã hội cho phù hợp với sự vận động của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Nhưng thực tế, các chính sách là do nhận thức chủ quan của con người, và thường là đi sau sự vận đông của quy luật nên không thể tránh khỏi những hạn chế. Nhưng với Nhà nước Việt Nam, chế độ chính trị và với sự vặn mình của nền kinh tế như hiện nay, chúng tui tin chắc rằng Việt Nam sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu của mình.
MỤC LỤC
PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN B: NỘI DUNG 2
I. PHẦN LÝ LUẬN 2
1- Xã hội là gì? 2
2- Những hoạt động cơ bản của xã hội 3
4- Quy luật phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lưc lượng sản xuất. 4
5- Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng 5
6- Chính sách kinh tế và chính sách xã hội 6
II. CÁC CHÍNH SÁCH KINH TẾ VÀ CÁC CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TÁC ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 6
1- Đối với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn trước thời kỳ đổi mới ( Giai đoạn 1979 -1986) 6
2- Thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay) 7
2.1. Về đổi mới cơ chế qua các kỳ đại hội 7
22.Các thành tựu kinh tế kinh tế cơ bản 7
23. Những vấn đề còn tồn tại: 9
3- Vận dụng lý luận về quan hệ biện chứng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong việc vận dụng kết hợp chính sách kinh tế và chính sách xã hội của nhà nước trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta. 9
31- Đánh giá ảnh hưởng của các chính sách kinh tế và xã hội đối với sự nghiệp xây dựng đất nước từ 1976 đến nay. 10
3.2- Vận dụng lý luận về quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong việc kết hợp chính sách kinh tế và chính sách xã hội của Nhà nước trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta. 12
PHẦN C: PHẦN KẾT LUẬN 18
Do Drive thay đổi chính sách, nên một số link cũ yêu cầu duyệt download.
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm vào Link, đợi vài giây sau đó bấm Get Website để tải:
You must be registered for see links
Tags: lạm phát ảnh hưởng như thế nào tới nền kinh tế việt nam từ 1986 đến nay, afta ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế, các chính sách kinh tế của nhà nước ảnh hưởng như thế nào, TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HOÁ ĐẾN GIÁO DỤC VIỆT NAM, phân tích chính sách và thể chế hóa chính sách kinh tế xã hội ở việt nam, xã hội hóa tác động như thế nào đến ngành Nội vụ, ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP, kinh tế hà nội thời nguyễn ảnh hưởng như thế nào đến nay, tình trạng kinh tế tác động như thế nào đến tham nhũng, thị trường có tác động như thế nào đến sản xuất công nghiệp ở nước ta, tác động của chính sách kinh tế mới đối với xã hội và kinh tế mĩ, KẾT LUẬN Chính sách công nghiệp trong phát triển kinh tế. VIỆT NAM LÀ MỘT NƯỚC NHƯ THẾ NÀO
Last edited by a moderator: