gameover.chuot

New Member
Download Khóa luận Cạnh tranh Trung - Nhật tại khu vực Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh

Download miễn phí Khóa luận Cạnh tranh Trung - Nhật tại khu vực Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh





MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: 3
KHÁI QUÁT QUAN HỆ TRUNG-NHẬT TRONG LỊCH SỬ 3
I.TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN TRONG LỊCH SỬ CHÂU Á 4
1. Khái quát quan hệ Trung – Nhật trước CTTG II: 4
2. Quan hệ Trung – Nhật trong chiến tranh lạnh: 4
2.1. Giai đoạn 1949-1971: 4
2.2. Giai đoạn 1972-1991: 6
II. VAI TRÒ CỦA ĐÔNG NAM Á VỚI TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN TRONG LỊCH SỬ 7
III. DI SẢN LỊCH SỬ ĐỐI VỚI QUAN HỆ TRUNG-NHẬT 8
1.Những vấn đề lịch sử 8
2.Vấn đề Đài Loan 10
CHƯƠNG II: 13
CẠNH TRANH TRUNG-NHẬT SAU CHIẾN TRANH LẠNH TẠI KHU VỰC ĐÔNG NAM Á 13
I.Vận động quan hệ Trung-Nhật sau chiến tranh lạnh 13
1. So sánh lực lượng Trung – Nhật sau chiến tranh lạnh 13
2.Chính sách của Trung Quốc và Nhật Bản với nhau: 14
2.1. Chính sách của Trung Quốc với Nhật Bản 14
2.2. Chính sách của Nhật Bản với Trung Quốc 15
II.Đông Nam Á trong chiến lược của Trung Quốc và Nhật Bản sau chiến tranh lạnh 16
1.Tầm quan trọng của Đông Nam Á đối với Trung Quốc và Nhật Bản sau chiến tranh lạnh 16
2.Triển khai chính sách của Trung Quốc và Nhật Bản tại Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh 17
2.1. Chính sách của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á 17
2.2.Chính sách của Nhật Bản đối với các quốc gia Đông Nam Á 19
III.Cạnh tranh Trung – Nhật trong khu vực Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh 21
1Cạnh tranh chính trị-quân sự Nhật – Trung tại khu vực 21
2.Vấn đề xây dựng các cơ chế hợp tác khu vực 26
3.Cạnh tranh kinh tế 27
3.1.Cạnh tranh đầu tư – thương mại tại khu vực 27
3.2.Vấn đề xử lý cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1997 30
3.3.Vấn đề ký kết các hiệp định tự do thương mại song phương 32
4.Cạnh tranh năng lượng và an ninh hàng hải ở biển Đông 34
CHƯƠNG III: 38
XU HƯỚNG CẠNH TRANH TRUNG-NHẬT TRONG TƯƠNG LAI 38
I.Tác động của cạnh tranh Trung-Nhật đến khu vực và Việt Nam 38
1.Tác động đến khu vực 38
1.1.Tác động tích cực: 38
1.2.Tác động tiêu cực 40
2. Tác động đến Việt Nam 40
II. Xu hướng cạnh tranh Trung-Nhật trong tương lai 42
1.Tình hình Trung Quốc và Nhật Bản hiện nay 42
2.Xu hướng cạnh tranh Trung- Nhật trong tương lai 44
KẾT LUẬN 47
 
 



Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung:

Mỹ và Nhật Bản. Mối quan hệ này có cái bẫy của mối quan hệ "cùng thắng". Michael Hsiao và Alan Yang, “Chính sách của Trung Quốc đối với Asean”, truy cập ngày 12/5/2011.
Từ đó, Trung Quốc đẩy mạnh triển khai chính sách hợp tác với ASEAN. Năm 1994, Trung Quốc tham gia diễn đàn khu vực ARF và trở thành một bên đối thoại tích cực của ASEAN. Tháng 12-1997, trong cuộc gặp thượng đỉnh của Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân và các nguyên thủ các nước ASEAN tại Malaysia hai bên đã tuyên bố chung về thiết lập quan hệ láng giềng thân thiện và tin cậy lẫn nhau hướng tới thế kỷ 21. Điểm mốc quan trọng nhất đánh dấu sự thay đổi tính chất của mối quan hệ này thông qua văn bản là Trung Quốc và ASEAN ký tuyên bố chung “đối tác chiến lược vì hòa bình và thịnh vượng” vào tháng 10-2009. Ngô xuân Bình(2008), “Tìm hiểu chính sách của Trung Quốc đối với Asean”, Nghiên cứu Đông Bắc Á (9),tr.6.
Có thể thấy tuy chưa hiểu hết thâm ý đối tác chiến lược của người Trung Quốc song với văn bản này, Trung Quốc đã tự mình khẳng định họ có tầm quan trọng lớn hơn trong tương quan so sánh với các thế lực khác trong quan hệ với ASEAN. Ít ra thì nhận định này cũng có lý cho đến hiện nay vì ngoài Trung Quốc thì cả Mỹ và Nhật Bản đều chưa ký một văn bản nào như vậy với ASEAN.
Có thể nói chính sách của Trung Quốc đối với ASEAN thể hiện qua việc ký hiệp định đối tác chiến lược với nhóm này là một bước tiến dài nhằm thể hiện với đối tác về một Trung Quốc có thiện chí và thực thi chính sách chính trị đối ngoại hòa bình với các nước láng giềng. Tuy nhiên cần thấy rằng chính sách của Trung Quốc đối với ASEAN được tiến hành dựa trên ưu thế của một thế lực lớn và buộc các nước nhỏ hơn trong một chừng mực nào đó phải chấp nhận. Điều này có thể thấy qua việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền của họ trên Biển Đông sau khi họ ký công ước quốc tế về luật biển năm 1982 cũng như việc sử dụng vũ lực để bảo vệ cái gọi là lợi ích trên vùng biển họ tuyên bố chủ quyền (việc này đã diễn ra một số lần trong thập kỷ 1980, 1990 và những năm gần đây) đã đặt các đối tác ASEAN vào thế đã rồi.
Chính sách của Nhật Bản đối với các quốc gia Đông Nam Á
Sau chiến tranh lạnh, nỗ lực chủ yếu của chính sách đối ngoại Nhật Bản là phát triển quan hệ kinh tế với nhiều quốc gia Đông Nam Á. Nhằm nâng cao vị thế của mình và tranh giành tầm ảnh hưởng với Trung Quốc trên trường quốc tế cũng như vứt bỏ hình ảnh mình chỉ là “cái đuôi” trong các chính sách của Hoa Kỳ đối với khu vực, Nhật Bản nhận thấy rằng ngoài cải cách ra, nước Nhật cần gắn bó và đóng một vai trò hữu hiệu hơn nữa với Châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng. Cho tới nay, Nhật Bản là quốc gia đầu tư chủ chốt vào các nước Đông Nam, nhưng điều đó vẫn không đảm bảo nước Nhật có một vai trò chính trị quan trọng ở khu vực. Động thái của Nhật Bản vẫn bị Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á nghi ngờ. Nhật Bản phải cố gắng thuyết phục các nước láng giềng rằng mình có ý định đóng một vai trò tích cực trong khu vực, có lợi cho tất cả.
Từ đó, chính sách của Nhật cũng độc lập hơn với Hoa Kỳ nhưng vẫn giữ tính cạnh tranh với Trung Quốc trong khu vực Đông Nam Á. Năm 1997, lập trường của Nhật Bản với Myanmar cũng khác lập trường của Hoa Kỳ. Nước Nhật không ủng hộ chính sách của Mỹ định cô lập Myanmar, mà tán thành chủ trương của ASEAN muốn đối thoại với nước này. Cũng phải nói rằng, quyết định của Nhật Bản, ở một mức độ nào đó, bị tác động từ sự mở rộng ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc trong khu vực. Tháng 3/1977, Trung Quốc thông báo cho Myanmar vay một khoản lớn, và ký với nước này một hiệp ước hợp tác kinh tế. Nhật Bản gắn mối quan tâm của Trung Quốc đến Myanmar với tham vọng của Bắc Kinh muốn vươn tới Ấn Độ Dương. Đỗ Trọng Quang (2007), “ Chính sách của Nhật Bản tại châu Á”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, (8), tr.16.
Trong trường hợp Việt Nam, chính phủ Tokyo cũng đi đầu thiết lập quan hệ với Hà Nội, mặc dầu Mỹ cấm vận Việt Nam về kinh tế. Tại Campuchia, nước Nhật giữ một vai trò chủ chốt trong tiến trình hòa bình, nêu bật sự cam kết của Tokyo muốn đóng góp vào hòa bình và ổn định của khu vực.
Sở dĩ Nhật Bản hăng hái trong chính sách với các nước khu vực Đông Nam Á còn do nhiều nhân tố thúc đẩy. Theo dự báo thì đến năm 2025, hơn một nửa dân số Nhật Bản sẽ quá tuổi 65, bộ phận lớn dân chúng già đi đó sẽ gây sức ép cho nên kinh tế và cấu trúc xã hội của đất nước. Hiện nay, nước Nhật đã thiếu tiền trả hưu bổng và chăm sóc y tế cho công dân nhiều tuổi. Dân chúng đang già đi và tỉ lệ sinh đẻ thấp có nghĩa là nước Nhật cần ngày càng nhiều nhân công nước ngoài, và đến một mức độ nào đó, tình trạng thiếu nhân công là một trong những lý do khiến Nhật Bản mở rộng cơ sở công nghiệp ở nước ngoài. Và các nước Đông Nam Á là một lựa chọn không thể không kể đến.
Một lý do không kém quan trọng là Nhật Bản nhận thức được những hạn chế của mình khi muốn có một vị thế cường quốc lớn ở Đông Nam Á nói riêng và trên thế giới. Nước Nhật hầu như không có tài nguyên thiên nhiên, cần nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu thành phẩm. Trong những năm đầu 1990, Nhật Bản phải đối phó với những vấn đề kinh tế lớn, nhiều cuộc cải cách hành chính, xã hội và chính trị được thi hành để phục hồi nền kinh tế. Đây cũng là thời gian thế giới chứng kiến những thay đổi đáng kể khi Liên Xô tan rã. Chiến tranh Lạnh kết thúc tác động sâu sắc đến chính sách đối ngoại của Nhật Bản.
Cạnh tranh Trung – Nhật trong khu vực Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh
Cạnh tranh chính trị-quân sự Nhật – Trung tại khu vực
Sau chiến tranh lạnh, cục diện thế giới thay đổi, Trung Quốc và Nhật Bản ra sức tranh giành tầm ảnh hưởng của mình với khu vực Đông Nam Á trên lĩnh vực chính trị và quân sự. Nhật Bản là một nước đã có quan hệ mật thiết với hầu hết các nước ASEAN từ nửa thế kỷ trước còn quan hệ Trung Quốc và ASEAN thì tương đối mới nhưng được triển khai rất nhanh từ thập niên 1990. Trong giai đoạn này,Trung Quốc tích cực, chủ động lập lại quan hệ bình thường với nhiều nước ASEAN. Phần lớn việc lập lại quan hệ bình thường này được thực hiện năm 1990 trong chuyến công du của Thủ tướng Lý Bằng sang Indonesia, Singapore, Malaysia, Thái Lan và Lào.
Xem thêm: Trần Hoàng Long(2007), “Quan hệ Nhật – Trung hiện nay: Thách thức và triển vọng”, Nghiên cứu Đông Bắc Á(7).tr.13
Do đó, cuộc chạy đua tranh giành ảnh hưởng giữa hai quốc gia càng trở nên quyết liệt và sôi động hơn tại khu vực trong cả lĩnh vực chính trị và quân sự.
Về chính trị, đối với cả Nhật Bản và Trung Quốc, đây được coi như một cuộc chạy đua trong việc gia tăng ảnh hưởng, lôi kéo các nước đồng minh tại khu vực. Tuy cùng đạt đến vị trí cường quốc chính trị và kinh tế, nhưng sự nổi dậy của Nhật Bản và Trung Quốc lại diễn ra theo hai hướng trái ngược nhau, được nhiều nhà phân tích coi như “Một chín một mư
 

daigai

Well-Known Member
Trích dẫn từ dramatico:
bài hay, rất hữu ích, mong MOD share link


của bạn đây, nhớ thank cho tác giả nhé
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác
Tạo bởi Tiêu đề Blog Lượt trả lời Ngày
D Cạnh tranh thương mại Mỹ Trung - Tiểu luận thương mại quốc tế Luận văn Kinh tế 1
D Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về tập trung kinh tế Luận văn Kinh tế 0
D Mục tiêu và lợi thế cạnh tranh của chiến lược tập trung của Vinasun Luận văn Kinh tế 0
N Cạnh tranh Trung – Mỹ ở Đông Nam Á kể từ năm 2001 đến nay Kinh tế quốc tế 0
B Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong hoạt động tín dụng trung và dài hạn Luận văn Kinh tế 0
D Nâng cao năng lực cạnh tranh của trung tâm phân thối thời trang Winny trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO Môn đại cương 0
H Nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty CP thép Việt Nhật tại một ở thị trường Hà Nội _ công ty CP thép VIỆT NHẬT(Trụ sở công ty P12A06-Nhà17T3-Khu đô thị trung hoà –Nhân Chính-Cầu Giấy –Hà Nội) Tài liệu chưa phân loại 0
T Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần thuốc thú y trung ương 1. Tài liệu chưa phân loại 0
P Hoạt động đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty dược phẩm trung ương 1. Thực trạng và giải pháp Tài liệu chưa phân loại 2
M Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp da giầy Việt Nam so với Trung Quốc trong xuất khẩu sang thị trường EU Tài liệu chưa phân loại 0

Các chủ đề có liên quan khác

Top