nguyenthuhajenny
New Member
Download Tiểu luận Điểm mới về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 so với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) miễn phí
Thẩm quyền ban hành văn bản QPPL liên tịch từ chỗ được giao cho các cơ quan nhà nước theo Luật BHVBQPPL 1996 (sửa đổi, bổ sung 2002) thì đến Luật BHVBQPPL 2008 thẩm quyền đó đã được giao trực tiếp cho người đứng đầu các cơ quan này. Cụ thể:
Điều 18 Luật BHVBQPPL 1996 (sửa đổi, bổ sung 2002) quy định chủ thể có thẩm quyền phối hợp ban hành văn bản QPPL liên tịch gồm:
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Tòa án nhân dân tối cao với Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội trong trường hợp pháp luật có quy định việc tổ chức chính trị - xã hội tham gia quản lý nhà nước.
Và các cơ quan này có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL liên tịch dưới hình thức thông tư, nghị quyết.
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho
Tóm tắt nội dung:
A. ĐẶT VẤN ĐỀVăn bản quy phạm pháp luật (QPPL) là một trong những phương tiện quản lý được cơ quan nhà nước sử dụng để tác động, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quản lý nhà nước, có giá trị bắt buộc thi hành và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh Nhà nước. Văn bản QPPL được ban hành theo quy định của Nhà nước, cụ thể là Luật ban hành văn bản QPPL năm 1996. Nhưng nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế và vướng mắc phát sinh trong thực tiễn thi hành Luật ban hành văn bản QPPL, đồng thời nâng cao hiệu quả của công tác xây dựng ban hành văn bản QPPL, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, ngày 03/6/2008, Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ ba đã thông qua Luật ban hành văn bản QPPL mới năm 2008, thay thế Luật ban hành văn bản QPPL năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản QPPL năm 2002. Bài tiểu luận sau đây chúng em xin trình bày những điểm mới về thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 so với Luật ban hành văn bản QPPL năm 1996 (sửa đổi năm 2002).
B. NỘI DUNG
I. Khái quát chung
1.Khái niệm văn bản QPPL.
Theo Khoản 1 Điều 1 Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 thì “Văn bản QPPL là văn bản do cơ quan Nhà nước ban hành hay phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hay trong Luật ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội”.
Dấu hiệu của văn bản QPPL gồm: văn bản có chứa đựng quy phạm pháp luật; do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; được ban hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định và được Nhà nước bảo đảm thi hành bằng biện pháp cưỡng chế. Từ đó, ta có cách định nghĩa khác về văn bản QPPL như sau: “văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có tính áp dụng chung, tính cưỡng chế, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định”.
2.Thẩm quyền ban hành văn bản QPPL
Để ban hành văn bản QPPL đúng với thẩm quyền ban hành, cần chú ý bảo đảm cả hai phương diện về thẩm quyền là thẩm quyền hình thức và thẩm quyền nội dung của chủ thể ban hành văn bản.
Về thẩm quyền hình thức thì được quy định trong Luật ban hành văn bản QPPL và Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND. Theo đó, người soạn thảo phải lựa chọn đúng loại văn bản cho mỗi chủ thể mà không được lầm lẫn vì việc vi phạm thẩm quyền hình thức sẽ dẫn tới tình trạng làm mất hiệu lực pháp luật của văn bản và sẽ bị cấp có thẩm quyền hủy bỏ.
Về thẩm quyền nội dung cũng được quy định trong pháp luật hiện hành. Tuy nhiên do thẩm quyền đó được quy định rải rác trong khá nhiều văn bản khác nhau và trong một số trường hợp, quy định về thẩm quyền nội dung của các cơ quan nhà nước còn có sự chồng chéo hay phân định chưa rõ ràng nên việc xác định thẩm quyền nội dung rất khó khăn. Để có thể xác định đúng về thẩm quyền nội dung của chủ thể ban hành văn bản QPPL cần dựa vào những nguyên tắc pháp lý về vấn đề này.
Đó là cần xuất phát từ quy định của pháp luật hiện hành để xác định chủ thể có thẩm quyền đặt ra những QPPL điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh từ loại việc là chủ đề của văn bản. Nếu những vấn đề đã có luật, pháp lệnh thì thẩm quyền ban hành văn bản QPPL thường được xác định dưới dạng quy định về thẩm quyền giải thích, hướng dẫn và cụ thể hóa luật, pháp lệnh đó. Còn nếu những vấn đề chưa có luật, pháp lệnh thì cần xem xét: Nếu là vấn đề ít quan trọng, không cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật thì không nên ban hành văn bản QPPL; nếu quan trọng, đòi hỏi phải có quy định của pháp luật để điều chỉnh thì phải xác định vấn đề đó nằm trong giới hạn thẩm quyền của cơ quan nào để ban hành.
Như vậy, ta có thể thấy việc ban hành văn bản QPPL phải đúng thẩm quyền của chủ thể ban hành. Nếu ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái thẩm quyền có thể ảnh hưởng đến sự hài hoà, thống nhất trong thực hiện quyền lực của bộ máy nhà nước và có thể không đảm bảo chất lượng về nội dung của văn bản.
II. Điểm mới về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 so với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002).
1.Luật BHVBQPPL 2008 đã điều chỉnh lại thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của các chủ thể.
Theo quy định của Luật BHVBQPPL năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) thì hệ thống văn bản QPPL ở nước ta bao gồm hơn 20 loại, do nhiều cơ quan có thẩm quyền khác nhau ban hành, mỗi cơ quan có thẩm quyền ban hành từ 2 đến 3 loại văn bản. Theo quy định tại chương 2 Luật BHVBQPPL năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) thì:
Quốc hội có thẩm quyền ban hành Hiến pháp, Luật, Nghị quyết;
Ủy ban thường vụ quốc hội có thẩm quyền ban hành Pháp lệnh, Nghị quyết;
Chủ tịch nước có thẩm quyền ban hành Lệnh, Quyết định;
Chính phủ có thẩm quyền ban hành Nghị quyết, Nghị định;
Thủ tướng chính phủ có thẩm quyền ban hành Quyết định, Chỉ thị;
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có thẩm quyền ban hành Quyết định, Chỉ thị, Thông tư;
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Quyết định, Chỉ thị, Thông tư;
Giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội có thể phối hợp với nhau để ban hành Nghị quyết, Thông tư liên tịch;
HĐND có thẩm quyền ban hành Nghị quyết, UBND có thẩm quyền ban hành Quyết định, Chỉ thị.
Việc quy định như trên dẫn đến tình trạng thẩm quyền ban hành văn bản QPPL chồng chéo, nhiều cơ quan cùng ban hành một hình thức văn bản và một cơ quan được ban hành nhiều loại văn bản. Điều này làm cho hệ thống văn bản QPPL rất phức tạp, rối rắm, gây khó khăn cho việc quản lý, ban hành văn bản và khó đảm bảo tính nhất quán trong các văn bản QPPL. Thậm chí nhiều văn bản được ban hành trái với Hiến pháp, Luật, ban hành sai về hình thức văn bản và không đúng thẩm quyền.
Để khắc phục tình trạng nêu trên, Luật BHVBQPPL 2008 đã điều chỉnh theo hướng giảm bớt thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của một số chủ thể. Theo đó, một số cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL chỉ được ban hành văn bản QPPL dưới một hình thức:
Chính phủ chỉ ban hành văn bản QPPL dưới hình thức Nghị định thay vì Nghị định và Nghị quyết như trước đây;
Thủ tướng chính phủ chỉ ban hành văn bản QPPL dưới hình thức Quyết định (trước đây là Quyết định và Chỉ thị);
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Chánh án Toàn án nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ ban hành văn bản QPPL dưới hình thức Thông tư (trước đây là Quyết đ...