Download Pháp luật về môi trường miễn phí
Bên cạnh việc tích cực ban hành các văn bản quy phạm pháp luật vềbảo vệ
môi trường, Việt Nam đã từng bước tham gia các điều ước quốc tếvềmôi trường
như: Công ước vềLuật Biển, Công ước Viên vềbảo vệtầng ô zôn, Công ước kiểm
soát, vận chuyển qua biên giới các phếthải nguy hại và tiêu huỷchúng (Basel),
Công ước vềbuôn bán quốc tếcác loài động, thực vật hoang dã có nguy cơtuyệt
chủng, Công ước về đa dạng sinh học Việc gia nhập các công ước này là tiền đề
quan trọng cho việc hội nhập của pháp luật Việt Nam với những tiêu chuẩn và quy
phạm của pháp luật quốc tế.
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho
Tóm tắt nội dung:
môi trường theo quy định; không thu gom, lưu giữ và xử lý theo quy định về quảnlý chất thải nguy hại đối với dầu, mỡ, dung dịch khoan, hoá chất và các chất độc
hại khác được sử dụng trong các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên biển sau
khi sử dụng; đổ các loại chất thải xuống vùng biển thuộc khu bảo tồn thiên nhiên,
di sản tự nhiên, vùng có hệ sinh thái tự nhiên mới, khu vực sinh sản thường xuyên
hay theo mùa của các loài thủy, hải sản.
- Một số vi phạm điển hình:
Hiện nay, một số khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp đang vi
phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, theo kiểm tra của Sở Tài nguyên và Môi
trường Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy:
Khu công nghiệp (KCN) Bình Chiểu, Cát Lái, Phước Hiệp, Tân Phú Trung,
Tây Bắc Củ Chi, Vĩnh Lộc chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung.
29
Toàn bộ nước thải từ các nhà máy, công ty tập trung về một hồ chứa chung
rồi thải ra cống thoát nước của khu dân cư. Vì chưa qua xử lý nên toàn bộ khối
lượng nước thải của các đơn vị trên đều gây ô nhiễm nghiêm trọng. Nồng độ các
chất đều vượt từ vài chục đến vài chục ngàn lần tiêu chuẩn cho phép.
Không chỉ vậy, với những KCN đã có hệ thống xử lý nước thải như Linh
Trung 1, 2, Lê Minh Xuân, Tân Bình, Tân Thuận, Tân Tạo thì chất lượng nước sau
xử lý cũng chưa đạt yêu cầu quy định khiến "bệnh môi trường" của TP càng trở nên
nặng hơn.
Hơn nữa, nồng độ ô nhiễm của nước thải tại khu vực cống chung còn cao
hơn gấp nhiều lần so với nước thải sau xử lý. Điều này chứng tỏ vẫn còn tồn tại
nhiều doanh nghiệp (DN) cố tình chưa thực hiện việc đấu nối hệ thống thải nước
vào hệ thống nước thải chung của hệ thống xử lý nước thải tập trung các KCN.
Điển hình như tại KCN Tân Bình, nồng độ coliform tại trạm xử lý vượt tiêu
chuẩn cho phép là 84,6 lần, còn ở cống chung là 1.580.000 lần, nhu cầu oxy sinh
hóa vượt 2,17 lần, nhu cầu oxy hóa học vượt 3,65 lần.
Tương tự, tình trạng trên cũng xảy ra phổ biến tại KCN Lê Minh Xuân. Theo
đó, coliform tại trạm xử lý vượt tiêu chuẩn cho phép 72 lần, còn tại cống thải chung
81.000 lần...
Đó là chưa kể còn hàng trăm doanh nghiệp hoạt động ngoài các KCX-KCN
cũng đang từng ngày từng giờ xả thẳng nước thải sản xuất chưa xử lý vào hệ thống
thoát nước sinh hoạt;
+ Công ty Vedan tại Đồng Nai; Công ty Miwon tại Phú Thọ thải nước thải
sản xuất chưa qua xử lý ra môi trường…
+ Công ty TNHH Sợi hóa học Thế Kỷ Mới vi phạm pháp luật về bảo vệ môi
trường trong nhập khẩu phế liệu gồm 107 tấn các chai, lọ nhựa đã qua sử dụng
không đúng quy định.
+ Công ty Cổ phần thép Thành Lợi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
trong nhập khẩu phế liệu khi nhập khẩu 809 tấn sắt, thép phế liệu không đúng quy định.
2.2. Xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
2.2.1. Kết quả đạt được
Trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, đặc biệt khi Luật bảo
vệ môi trường năm 2005 có hiệu lực thi hành đã quy định rõ các hành vi nghiêm
cấm, trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ môi trường của chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ tập trung và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, hộ gia đình, cá nhân. Để
30
thực thi có hiệu quả Luật Bảo vệ môi trường, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
81/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường. Qua hai năm thực hiện Luật Bảo vệ môi trường, Nghị
định số 81/2006/NĐ-CP, kết quả đạt được tại một số tỉnh, thành phố trong cả nước
cụ thể như sau:
+ Tại tỉnh Khánh Hòa:
Từ cuối năm 2006 đến nay, các cơ quan quàn lý Nhà nước trên địa bàn tỉnh
Khánh hòa đã tiến hành thanh tra, kiểm tra tại các cơ sở đang hoạt động sản xuất
kinh doanh trên địa bàn tỉnh về việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường, qua
thanh tra, kiểm tra phát hiện một số vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường chủ
yếu là vi phạm các quy định về lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hay Bản
đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường; vi phạm trong việc xử lý chất thải công nghiệp;
vi phạm các quy định về cấp, thu hồi Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước. Qua
đó, đã ban hành 66 quyết định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực bảo vệ môi
trường với hình thức xử phạt chính là phạt tiền với tổng số tiền phạt là 360.330.000
đồng, trong đó cấp huyện ban hành 59 quyết định với số tiền phạt là 169.830.000
đồng, cấp tỉnh 7 quyết định với số tiền là 190.500.000 đồng.
Bên cạnh việc phạt tiền, người có thẩm quyền xử phạt đã áp dụng các hình
thức phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả như: Buộc thực hiện đúng
các nội dung đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt; buộc các doanh
nghiệp phải xử lý các nguồn thải đạt tiêu chuẩn cho phép và phải có giải pháp lộ
trình cụ thể trong việc thực hiện Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ; buộc các doanh nghiệp vi phạm có trách nhiệm hỗ trợ hay đền bù thiệt
hại cho người dân trong khu vực bị ô nhiễm; buộc thực hiện các giải pháp khắc
phục tình trạng ô nhiễm môi trường do vi phạm hành chính gây ra.
+ Tại tỉnh Bến Tre:
Sở Tài nguyên và Môi trường và UBND các huyện, thị xã đã tiến hành thanh
tra, kiểm tra về việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đối với 1.053 tổ chức,
cá nhân hoạt động sản xuát kinh doanh trên địa bàn toàn tỉnh. Qua thanh tra, kiểm
tra đã tiến hành xử phạt vi phạm hành chính 45 trường hợp với số tiền
188.7000.000đồng.
+ Tại tỉnh Lâm Đồng:
Hầu hết các vi phạm buộc phải xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường hiện nay là do các đơn vị chưa thực hiện các báo cáo môi trường
hay nhiều nhất là chưa thực hiện các nội dung đã đăng ký hay đã cam kết trong
31
báo cáo môi trường. Sau khi bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường các đối tượng đã kịp thời khắc phục, xử lý các tác nhân gây ô nhiễm môi
trường do đơn vị gây ra, đầu tư xây dựng hệ thống xử lý môi trường và đưa vào vận
hành nghiêm túc.
Các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường gây tác động trên phạm vi
địa phương không lớn. Bản chất vụ việc không mang tính cố ý. Trừ một vài trường
hợp, ngoài ra nguyên nhân nảy sinh vụ việc thường do sự cố, ngoài ý muốn.
Một vài cơ sở kinh doanh sản xuất nhỏ hiện còn tồn tại trong khu dân cư, gây
ô nhiễm môi trường cục bộ như sản xuất thủ công, chăn nuôi heo, gà,… không có
khả năng xử lý hay xử lý không triệt để, gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường.
Trong nhiều trường hợp (85%) các vụ khiếu tố về môi trường xuất phát từ
các nguyên nhân khác không liên quan đến môi trường (như tranh chấp đất đai,
hoạt động khoáng sản…).
Hiện nay việc giải quyết đơn khiếu tố do phòng môi trường thụ lý, vụ việc đã
giải quyết cụ thể như sau:
- Năm 2006: Đã chuyển đơn cho địa phương giải quyết: 05 vụ, Sở Tài
nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với