Masson

New Member

Download Tiểu luận Đương sự trong vụ án dân sự miễn phí





Quyền và nghĩa vụ này xuất phát từ nguyên tắc ” Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự” quy định tại Điều 6 BLTTDS.
Đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, khi đương sự giao nộp chứng cứ Toà án phải lập biên bản có chữ ký của người nhận và dấu của Toà án (Điều 84 BLTTDS). Đương sự có quyền nộp chứng cứ ở bất cứ giai đoạn tố tụng nào. Đây chính là khó khăn của Toà án và cũng là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến phải cải sửa án. Để khắc phục tình trạng này, ở cấp sơ thẩm, Thẩm phán cần thông báo cho đương sự biết những chứng cứ, tài liệu còn thiếu yêu cầu đương sự nộp bổ sung (Điều 85 BLTTDS). Với tinh thần mới ,BLTTDS nhấn mạnh nghĩa vụ chứng minh của đương sự. Nếu đương sự không nộp hay nộp không đầy đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hay nộp không đầy đủ (Điều 84 BLTTDS).
 



Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
Posted on 08/03/2010 by Civillawinfor
THS. NGUYỄN VIỆT CƯỜNG  -  Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao
Kế thừa và phát triển các quy định của các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động trước đây (gọi chung là các pháp lệnh tố tụng), Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) có 7 điều (từ Điều 56 đến Điều 62) quy định đương sự trong vụ án dân sự. Bài viết này nhằm nghiên cứu làm rõ khái niệm này.
1. Khái niệm Đương sự trong vụ án dân sự
Điều 56 Bộ luật TTDS quy định: “ Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.
So với các pháp lệnh tố tụng thì khái niệm “đương sự” trong BLTTDS mở rộng hơn. Pháp lệnh tố tụng dân sự quy định: Các đương sự là công dân, pháp nhân. Pháp lệnh tố tụng kinh tế quy định đương sự là cá nhân, pháp nhân. Với quy định này, các tổ chức không có tư cách pháp nhân như tổ hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp hợp danh… không phải là đương sự. Rõ ràng quy định như trên không bao quát được tất cả các chủ thể tham gia quan hệ dân sự đã được quy định trong Bộ luật dân sự. Với quy định trong điều 56 BLTTDS đã khắc phục được những thiếu sót trong các pháp lệnh tố tụng và đã bao quát được tất cả các chủ thể tham gia quan hệ dân sự đã được quy định trong BLDS.
- Đương sự là cá nhân bao gồm công dân Việt Nam, người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch. Điều 57 BLTTDS đã đưa ra khái niệm năng lực pháp luật Tố tụng dân sự vào lực hành vi tố tụng dân sự của công dân Việt Nam mà các pháp lệnh tố tụng trước đây chưa nêu
Bộ luật quy định: đương sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hay người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng, họ không thể tự mình tham gia tố tụng dân sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích của những người này tại Tòa án do người thay mặt hợp pháp của họ thực hiện.
Đối với đương sự là người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do thay mặt hợp pháp của họ thực hiện.
Đối với đương sự là người từ đủ 15 tuối đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hay giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hay quan hệ dân sự đó. Quy định này xuất phát từ quy định trong Bộ luật lao động (BLLĐ) và Bộ luật dân sự (BLDS), vì theo BLLĐ người đủ 15 tuổi có quyền ký kết hợp đồng lao động. Còn BLDS quy định trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng đủ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không đòi hỏi phải có sự đồng ý của người thay mặt theo pháp luật. Ngoài ra BLTTDS quy định nếu “pháp luật có quy định khác” thì căn cứ vào các quy định đó để xác định năng lực hành vi tố tụng của đương sự. Ví dụ: Luật Hôn nhân và gia đình quy định: tuổi kết hôn của nữ là từ 18 tuổi. Như vậy, người nữ chưa đủ 18 tuổi vẫn có quyền tự mình tham gia tố tụng về quan hệ hôn nhân và gia đình.
- Đương sự là cơ quan bao gồm các cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân. Cơ quan tham gia tố tụng dân sự thông qua người thay mặt theo pháp luật ( thủ trưởng cơ quan) hay thay mặt theo ủy quyền.
Thông thường một cơ quan gồm nhiều bộ phận cấu thành về nguyên tắc nếu những bộ phận cấu thành này không có quyền độc lập về tài sản thì các bộ phận này không thể tham gia tố tụng với tư cách đương sự, ví dụ: Tòa án nhân dân tối cao có nhiều bộ phận khác nhau trong đó có 5 Tòa chuyên trách và 3 Tòa phúc thẩm hoạt động độc lập, nhưng không có quyền độc lập về tài sản. Do đó các Tòa này không thể tham gia tố tụng với tư cách đương sự, mà đương sự phải là TANDTC. Tuy nhiên, đối với những bộ phận trong cơ quan nhưng lại có quyền độc lập về tài sản, có quyền tham gia các quan hệ dân sự với tư cách độc lập thì theo chúng tui bộ phận này có quyền tham gia tố tụng dân sự độc lập. Ví dụ: Báo pháp luật của Bộ Tư pháp là một đơn vị của Bộ Tư pháp, nhưng đơn vị này có thẩm quyền ký hợp đồng lao động với phóng viên, có quyền độc lập tham gia các giao dịch dân sự trên cơ sở tài chính độc lập, vì vậy họ có toàn quyền tham gia tố tụng với tư cách là đương sự.
- Đương sự là tổ chức bao gồm: tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.
Tổ chức tham gia tố tụng dân sự thông qua người thay mặt theo pháp luật hay thay mặt theo ủy quyền.
Tổ chức là pháp nhân hay không phải là pháp nhân. Có thể tham gia Tố tụng dân sự với tư cách là đương sự.
Trường hợp tổ chức có nhiều bộ phận thì chỉ những bộ phận hoàn toàn độc lập về tài chính mới có tư cách đương sự. Ví dụ: Tổng công ty có văn phòng, có phòng kế toán tài vụ… và các công ty thành viên thì văn phòng, phòng tài vụ… không thể tham gia tố tụng với tư cách đương sự. Nhưng các công ty thành viên, nếu đủ đi ều kiện là pháp nhân được tham gia tố tụng dân sự với tư cách đương sự.
Vấn đề đặt ra là xác định tư cách tham gia Tố tụng dân sự của Hộ gia đình, dòng họ. Hộ gia đình, dòng họ hình thành trên cơ sở huyết thống, tập quán chứ không do cơ quan có thẩm quyền cho phép hay công nhận, nên hộ gia đình dòng họ tham gia tố tụng dân sự với tư cách đương sự là cá nhân. Ví dụ: dòng họ Nguyễn ở thôn X tranh chấp nhà thờ từ đường với người đang quản lý, sử dụng nhà đó, thì các bên tranh chấp trong vụ án này phải được xác định là cá nhân. Dòng họ phải có người thay mặt tham gia tố tụng, Tòa án chỉ chấp nhận khi người thay mặt có sự ủy quyền của những người trong dòng họ theo theo hình thức thích hợp.
Đối với cơ quan, tổ chức nước ngoài thì năng lực pháp luật tố tụng dân sự được xác định theo pháp luật của nước cơ quan, tổ chức đó được thành lập, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác.
Đối với tổ chức quốc tế thì năng lực pháp luật tố tụng dân sự được xác định trên cơ sở điều ước Quốc tế là căn cứ để thành lập tổ chức đó, quy chế hoạt động của tổ chức Quốc tế hay điều ước Quốc tế đã được ký kết với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam (Điều 408 BLTTDS)
2. Khái niệm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Điều 56 BLTTDS đưa ra khái niện nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan mà các pháp lệnh tố tụng trước đó chưa nêu.
a. Nguyên đơn trong vụ án dân sự không những “là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức do BLTTDS quy định khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi ch...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác

Top