Download miễn phí Đề tài Một số vấn đề chung về thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Thuận lợi cơ bản đầu tiên là chúng trái phiếu có hệ thống chính trị ổn định. Sau nhiều năm đổi mới Việt Nam đã thu được những thành quả hết sức phấn khởi. Thu nhập và mức sống của mọi tầng lớp dân cư được cải thiện rõ rệt.
Nền kinh tế nước ta đang phát triển với tốc độ cao: bình quan hơn 8 - 9 % trong nhiều năm qua, theo dự báo mới nhất của ADB thì khả năng tăng trưởng kinh tế trong 2 năm tới của nước trái phiếu cũng sẽ cao nhất trong khối ASEAN. Đây là tiền đề quan trọng để nảy sinh ra nhiều doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và đủ điều kiện để phát hành chứng khoán.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-03-23-de_tai_mot_so_van_de_chung_ve_thi_truong_chung_kho.Hy7oW5r6c2.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-65391/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
một trái phiếu có bảo đảm. có một số loại trái phiếu bảo đảm chủ yếu là:Trái phiếu có tài sản cầm cố: một trái phiếu có tài sản cầm cố là việc công ty phát hành thế chấp bất động sản để đảm bảo khả năng thanh toán nợ.
Trái phiếu có tài sản thế chấp: công ty phát hành đưa ra các chứng khoán để chuyển nhượng mà công ty sở hữu của người khác để bảo đảm cho việc phát hành trái phiếu. Loại trái phiếu này bao gồm: Trái phiếu không bảo đảm nghĩa là: một công ty có khả năng nhận tín dụng cao có thể phát hành trái phiếu chỉ trên uy tín của mình. Những trái phiếu này được gọi là giấy nhận nợ và công ty không phải thế chấp tài sản làm đảm bảo cho nó. Và các chứng khoán nhận nợ do ngân hàng phát hành nghĩa là: Các ngân hàng có thể tham gia vào thị trường với các công cụ ngắn hạn như: Chứng khoán tiền gửi (cung cấp cho ngân hàng các nguồn vốn để thực hiện cho vay ngắn hạn), phiếu chấp nhận thanh toán của ngân hàng (được phát hành để tài trợ cho buôn bán quốc tế).
Trái phiếu chính phủ:
Để tài trợ cho chi tiêu ngân sách, các chính phủ có thể phát hành trái phiếu thông qua kho bạc nhà nước. Trái phiếu chính phủ có thể là ngắn hạn, trung và dài hạn.
Kì phiếu kho bạc ngắn hạn: Phổ biến nhất là các loại 3 tháng và 6 tháng, các kỳ phiếu ngắn hạn là những công cụ chiết khấu và thường không có mức lãi suất cố định. Các kì phiếu ngắn hạn thường được mua bằng một số tiền và người mua sẽ nhận được một số tiền lớn hơn (bằng mệnh giá) khi đến hạn. khoản chênh lệch giữa hai số tiền trên gọi là khoản chiết khấu, lãi suất thu được chính là lãi suất chiết khấu.
Trái phiếu kho bạc trung và dài hạn: Các trái phiếu kho bạc trung và dài hạn là các công cụ có kỳ hạn dài hơn kỳ phiếu kho bạc. Trái phiếu trung hạn được phát hành với thời gian đáo hạn từ một năm đến 10 năm. trái phiếu dài hạn được phát hành từ 10 đến 30 năm. Các trái phiếu trung và dài hạn có mức lãi suất cố định và được trả lãi trên cơ sở nửa năm. những công cụ này được tính toán trên cơ sở 1 năm 365 ngày ( mà không phải là 360 ngày như đối với các kì phiếu ngắn hạn và các công cụ khác)
Trái phiếu địa phương: Kì phiếu địa phương ngắn hạn: các chính quyền địa phương phát hành những công cụ ngắn hạn để ứng trước nhu cầu về vốn. Những công cụ này được gọi là kì phiếu, thường có kì hạn 6 tháng hay ít hơn. các kì phiếu được phát hành trên cơ sở dự tính trước các khoản thuế gọi là kì phiếu ứng trước thuế. Các loại phát hành dựa trên dự tính thu nhập tương lai gọi là kì phiếu ứng trước thu nhập. Các kì phiếu ứng trước đợt phát hành trái phiếu mới gọi là kì phiếu ứng trước cho phát hành trái phiếu. Trái phiếu địa phương trung và dài hạn thường có một số đặc điểm sau:
Trái phiếu trách nhiệm chung: được bảo đảm bằng năng lực thu thuế của chính quyền địa phương.
Trái phiếu bảo đảm bằng thuế cụ thể: được bảo đảm bằng một loại thuế nhất định của địa phương.
Trái phiếu thu nhập: được bảo đảm bằng thu nhập từ dự án xây dựng bằng tiền bán trái phiếu.
2. Cấu trúc cơ bản của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sản phẩm tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng có kì hạn trên 1 năm). còn nói theo ngôn ngữ bình dân thì thị trường chứng khoán là cái chợ mua bán các phương tiện đầu tư tài chính nhằm mục đích lợi nhuận.
Thị trường chứng khoán có hai bộ phận:
a.Thị trường sơ cấp (primary market)
Các chứng khoán lần đầu tiên được bán ra thị trường được gọi là chứng khoán mới phát hành. Thị trường mua bán chứng khoán mới phát hành được gọi là thị trường sơ cấp hay còn gọi là thị trường phát hành.
b.thị trường thứ cấp (secondary market)
Là thị trường mà các chứng khoán đựoc mua bán lại sau khi các chứng khoán được bán ở thị trường sơ cấp. Trên thị trường thứ cấp, lợi nhuận thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về nhà đầu tư và những người buôn bán vhứ không thuộc về công ty phát hành chứng khoán.
Thị trường thứ cấp bao gồm thị trường tập trung (sở giao dịch chứng khoán) và thị trường tập trung (OTC)
Sở giao dịch chứng khoán (tại sàn hay không có sàn)
Sở giao dịch chứng khoán thay mặt cho thị trường giao dịch theo cách đấu giá trong đó những người mua và những người bán cạnh tranh giao dịch với nhau trên cơ sở đó hình thành giá cả cạnh tranh.
Hình thức sở hữu:
Lịch sử phát triển SDGCK các nước đã và đang trải qua một số hình thức sở hữu như sau:
Trước hết nó là một tổ chức do các thành viên (là công ty chứng khoán) sở hữu. Thời kì đầu, SGDCK được tổ chức dưới hình thức các câu lạc bộ mini dần dần phát triển thành các tổ chức phi lợi nhuận do các thành viên sở hữu. Tuy nhiên, hội đồng quản trị của SGDCK, bên cạnh những thành viên do công ty thành viên cử ra vẫn có một số thành viên do chính phủ đề cử.
Là thành một công ty cổ phần, do các công ty thành viên, các ngân hàng và cả các tổ chức không phải là thành viên sở hữu.
Là một tổ chức do chính phủ sở hữu: Có một vài nước trong những giai đoạn lịch sử nhất định, SDGCK do chính phủ sở hữu (như trường hợp của Hàn Quốc). Trong các hình thức trên, hình thức sở hữu thành viên là phổ biến nhất. Hình thức này cho phép SGDCK có quyền tự quản ở mức độ nhất định, tính hiệu quả và sự nhanh nhạy trong vấn đề quản lý tốt hơn các hình thức khác. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng yên tâm hơn so với hình thức do chính phủ sở hữu. Tuy nhiên trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định, việc chính phủ đứng ra sở hữu và quản lý SDG sẽ cho phép ngăn ngừa sự lộn xộn, không công bằng khi hình thức sở hữu thành viên chưa đựoc bảo vệ bằng hệ thống pháp lý đầy đủ, rõ ràng.
Số lượng sở giao dịch chứng khoán:
Tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi nước, số lượng các thị trường tập trung có khác nhau:
Bảng dưới đây sẽ minh hoạ số lượng thị trường của một số nước:
Nước
Số lượng
Sở GDCK
Kì hạn
OTC
Mỹ
4
1
1
Anh
1
1
AIM
Đức
8
1
0
Nhật
8
1
Hàn Quốc
1
1 (1996)
1(9187)
Hồng Kông
1
1
Thái Lan
1
1 (1995)
Philipin
1
1
1
Inđônêxia
3
1
Malay
2
1
1
Xinggapo
1
1
Ba Lan
1
Trung Quốc
2
1 (1991)
úc
1
2
Việc tồn tại nhiều SDGCK có ưu điểm là tạo ra sự cạnh tranh, đồng thời cho phép các địa phương có thể tham gia vào thị trường chứng khoán. Tuy nhiên với sự phát triển của hệ thống vi tính và thông tin hiện nay, việc tồn tại nhiều SDGCK đã trở nên không cần thiết, tạo ra sự chia cắt thị trường, chênh lệch về giá cả và lãng phí về cơ sở vật chất và kĩ thuật.
Chính vì vậy, xu hướng chúng trái ta hiện nay là hợp nhất các SDGCK vào một thị trường thống nhất trong cả nước. Với sự phát triển của hệ thống vi tính, xu hướng chung của các nước là hợp nhất các SDGCK vào một thị trường thống nhất, với một sàn giao dịch có nối mạng với nhau. Thực tế cho thấy việc tồn tại nhiều sở giao dịch chứng khoán sẽ dẫn đén việc cạnh tranh, chia cắt th