meocon_932001
New Member
Download miễn phí Phân tích ổ cứng
Công nghệ truyền chuỗi dữ liệu:
Serial ATA sử dụng công nghệ truyền chuỗi 8B/10B để truyền nhận dữ
liệu thôngqua serial cáp. Sơ đồ bảo toàn dữ liệu cao cấp này được nhanh
chóng chấp nhận trên diện rộng như là một sơ đồ truyền chuỗi thực tế và
thường được dùng trong nhiều công nghệ như GigabitEthernet và Fibre
Channel. Đây thực sự là giai đoạn chuyển tiếp Serial ATA thành một
phần của việc phát triển iSCSI trong tương lai.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-02-25-phan_tich_o_cung.9UQzNJeCcI.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-59989/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
ster 2 -> 4KB tiếp theoCluster 3 -> 4KB tiếp theo
Cluster 4 (cluster cuối cùng) ->lưu trữ 2KB còn lại và 2KB bị bỏ trống
2KB bỏ trống này không thuộc về bất cứ file nào, không lưu bất cứ dữ
liệu nào vì cluster 4 đã được chỉ định thuộc về file test.txt do đó đây là
một khoảng không gian rỗng hay nói khác đi “chúng ta đã phí phạm một
khoảng không gian trên ổ cứng” - đây chính là một trong những điểm
khác nhau và tiến bộ giữa các thế hệ FAT File System mà chúng tui sẽ
nói đến trong phần hệ thống file của OS ở phần sau. Mặc dù thế nhưng rõ
ràng cái mà người ta nhận được từ cluster là rất đáng kể, nó làm tăng hiệu
năng làm việc của ổ cứng và giúp hệ điều hành quản lý file tốt hơn nhiều
so với việc bắt hệ điều hành và ổ cứng phải làm việc ở cấp độ sector.
-Lost cluster:
Thông thường khi các bạn dùng các chương trình sửa ổ cứng nhất là
scandisk/ndd (chạy trên FATx File System) đôi khi bạn nhận được thông
báo “Lost cluster found! Fix it ?” Thật ra trong quá trong ổ cứng đọc và
ghi dữ liệu, hệ điều hành có vai trò mở file/tạo file (open/assign file) sau
đó tiếp tục phát lệnh để ổ cứng ghi từng phần dữ liệu vào từng cluster
được chỉ định rồi cuối cùng ra lệnh đóng file (close file). Tuy nhiên đôi
khi có một số trường hợp khi ổ cứng đang ghi dữ liệu vào các cluster đã
được chỉ định nhưng bất ngờ bị mất điện hay kết thúc quá trình ghi dữ
liệu nhưng lại không thực hiện quá trình đóng file, cho nên những cluster
này sẽ được công nhận là “đã được sử dụng” nhưng lại không thuộc về
bất cứ một file nào. Trong trường hợp này các chương trình sửa đĩa sẽ ghi
các thông tin mà các các cluster này lưu trữ ra từng file một để backup lại
các dữ liệu có giá trị bị mất.
-Chain (chỉ dành riêng cho FATx File System):
không phải lúc nào dữ liệu của một file cũng được ghi trên nhưng cluster
liên tiếp nhau (1,2,3,4…n). Do đó nếu như cluster kế tiếp đã được chỉ
định là đã sử dụng thì OS sẽ cố gắng tìm đến cluster kế tiếp hay kế tiếp
nữa cho đến khi tìm ra cluster trống để ghi dữ liệu vào. Việc dữ liệu của
một file (hay từng phần) được ghi rải rác mà không có sự liên tục trên
những cluster thì được gọi là “một chuỗi các cluster” (chain) và việc OS
dịnh dạng trên bảng FAT cũng được gọi là “định dạng một chuỗi FAT”.
Lost chain cũng tương tự như lost cluster chỉ khác là nguyên cả một chuỗi
cluster bị khai báo nhầm là đã được sử dụng.
-Bộ đệm ổ cứng (HDD Cache):
Hiện nay tuy các nhà sản xuất đang ngày càng một nâng cao tốc độ của ổ
cứng nhưng chắc chắn là tốc độ truy xuất dữ liệu của ổ cứng sẽ không
bao giờ có thể nhanh bằng RAM (Random Access Memory - bộ nhớ truy
xuất ngẫu nhiên). Để giảm bớt phần nào khoảng cách đó, các nhà sản
xuất phần cứng và phần mềm đã tạo ra bộ đệm ổ cứng (disk cache). Bộ
đệm của ổ cứng sử dụng một phần của RAM để lưu trữ những thông tin
thường xuyên được các ứng dụng truy nhập. Chính việc lưu trữ những
thông tin này trên RAM, bộ đệm đã giúp tốc độ truy xuất dữ liệu nhanh
hơn và giúp kéo dài tuổi thọ của ổ cứng. Nguyên tắc hoạt động của bộ
đệm khá đơn giản: những dữ liệu thường xuyên được truy nhập sẽ được
lưu trữ trong RAM khi đó nếu có ứng dụng yêu cầu truy cập những dữ
liệu này thì những dữ liệu này sẽ được lấy ra trực tiếp từ RAM chứ không
cần ổ cứng phải làm những công vịêc như: quay đĩa, xác định vị trí đầu
đọc, tìm kiếm…
Có 4 kiểu bộ đệm ổ cứng chính:
-Bộ đệm “mềm” (Software disk caches):
Sử dụng một phần bộ nhớ chính của máy (PC RAM – main memory) để
truy xuất và lưu trữ tạm thời một phần dữ liệu của ổ cứng. Loại bộ đệm
này do một chương trình tao và quản lý cho nên không cần đế những
phần cứng hỗ trợ đặc biệt. VCACHE chính là một ví dụ thực tế về bộ
đệm mềm.
-Bộ đệm “cứng” (on-board disk caches):
Sử dụng bộ nhớ và bộ điều khiển cache được thiết kế ngay trên board
mạch của ổ cứng. Mặc dù nó không hề sử dụng bất cứ một phần RAM
nào của bộ nhớ chính (computer RAM) để làm công việc lưu trữ tạm thời
nhưng chúng có dung lượng rất thấp (128KB->2MB cá biệt có thể lên
đến 4MB) và cực kỳ đắt tiền.
-Bộ đệm “riêng” (disk caching controllers):
Tương tự như bộ đệm cứng, bộ đệm riêng sử dụng bộ nhớ riêng (có cấu
trúc khác RAM) nhưng bộ nhớ và bộ điều khiển mà bộ đệm này sử dụng
là bộ nhớ và chíp điều khiển được gắn riêng rẽ trên một card điều khiển
chứ không phải là trên board mạch của ổ cứng và lẽ dĩ nhiên giá thành
của chúng cực kì đắt. Tuy nhiên, bộ đệm riêng lại hoạt động tốt và nhanh
hơn rất nhiều so với bộ đệm cứng vì nó vượt qua được một số giới hạn
của những phần của ổ cứng mà bộ đệm cứng luôn bị ảnh hưởng.
-Buffers :
Ở đây chúng tui không dịch hẳn từ buffer mà để nguyên như thế vì giữa
buffers và cache có những điểm rất giống nhau. Có rất nhiều tài liệu biên
dịch hay nguyên bản hoàn toàn không phân biệt giữa 2 khái niệm
“cache” và “buffers” mà lại để nguyên là “bộ đệm” – như vậy là không
chính xác! Vậy giữa cache và buffers có gì khác nhau và giống nhau ? Có
một điểm duy nhất giống nhau giữa cache và buffers chính là “chúng đều
là bộ nhớ đệm có tác dụng lưu trữ tạm thời một số dữ liệu trên ổ cứng
nhằm tăng tốc tốc độ truy xuất dữ liệu và tăng tuổi thọ cho ổ cứng” và
điểm khác nhau giữa chúng là :
Cache có tốc độ cao hơn nhiều so với buffers.
Cache phải cần đến bộ điều khiển cache - nếu là “cứng” thì cần phài có
chíp điều khiển, còn “mềm” thì phải cần phần mềm điều khiển – trong
khi đó buffers chỉ là một con chíp nhớ đơn giản không cần bộ điều khiển
riêng.
Buffers gặp rất nhiều giới hạn trong các quá trình giao tiếp và chuyển đổi
dữ liệu bởi vì khả năng quản lý dữ liệu của nó rất kém. Khi lưu trữ dữ
liệu tạm thời, buffer lưu trữ một lúc cả một track vì thế nếu muốn tìm một
sector nào trên track này thì hệ điều hành lại phải tiếp tục tìm kiếm trên
track mà buffer cung cấp - chậm hơn hẳn so với cache.
Những điều cần chú ý đến Cache :
Có thể bạn sẽ rất ngạc nhiên nếu như chúng tui nói là “ổ cứng có cache
lớn không có nghĩa là sẽ truy xuất dữ liệu nhanh hơn ổ cứng có cache nhỏ
(hai cái cùng loại có cùng tốc độ và dung lượng)”. Nói điều này thì
cũngkhông có gì là bất thường lắm, cache là bộ nhớ do đó tốc độ truy
xuất của bộ nhớ làm cache càng nhanh thì càng tốt , tuỳ từng trường hợp vào mức
độ thôn minh và khả năng quản lý của “chíp điều khiển” (cache
controllers chip) và cuối cùng là tổ chức của bộ nhớ làm cache (cho phép
đọc/ghi dữ liệu tuỳ ý hay chỉ có thể đọc hay ghi từ đầu đến cuối). Tuy
nhiên tác dụng của bộ cache sẽ mất hay giảm đi rất nhiều nếu như ổ
cứng đã được defragment (phần này chúng tui sẽ nói kỹ hơn ở phần Cấu
trúc File System)
Ở đây chúng tui xin được nói thêm một chút về VCACHE :
Windows có một ...