Download miễn phí Tiểu luận Tác động của việc gia nhập WTO tới nông nghiệp Việt Nam
Từ thực tế những cam kết của Việt Nam trong việc thực hiện Hiệp định nông nghiệp trong WTO, có thể nhận thấy một số tác động đối với hoạt động sản xuất và xuất khẩu nông sản của Việt Nam như sau:
Thứ nhất, sau 1 năm gia nhập WTO, việc các nước phải duy trì thuế nhập khẩu ưu đãi trong phạm vi hạn ngạch thuế quan sẽ đảm bảo sự thâm nhập hàng nông sản Việt Nam vào thị trường các nước nhập khẩu một cách ổn định. Kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam tăng mạnh đạt 12,5 tỷ USD (Bảng 3). Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng xuất khẩu (đạt 19,5%) thấp hơn so với các năm trước (năm 2006 là 22%, năm 2005 là 26,7%). Như vậy, cho thấy mức giảm của tăng trưởng xuất khẩu không lớn, trong khi đó mức giảm của tăng trưởng nhập khẩu nông sản lại tăng mạnh hơn nhiều. Mức nhập khẩu hàng nông sản năm 2007 chỉ bằng 85% của năm 2006. Điều đó có nghĩa là thương mại nông sản Việt Nam tiếp tục xuất siêu.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-01-29-tieu_luan_tac_dong_cua_viec_gia_nhap_wto_toi_nong.9X5hbYTRxv.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-56838/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO TỚI NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM1. Khái quát tình hình phát triển nông nghiệp Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng của khu vực nông nghiệp Việt Nam luôn thấp hơn khu vực công nghiệp và dịch vụ. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp bình quân cho cả giai đoạn 1995-2007 là 4%, thấp hơn tốc độ tăng trung bình của GDP. Riêng năm 2007, mặc dù nông nghiệp Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn do dịch bệnh và thiên tai, nhưng vẫn đạt tốc độ tăng trưởng là 3,25%, thấp hơn so với 2006 đạt 4,4% (Bảng 1).
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP và các khu vực kinh tế của Việt Nam (%), 1995-2007
Năm
Tốc độ tăng trưởng GDP
Tốc độ tăng trưởng của NN
Tốc độ tăng trưởng của CN
Tốc độ tăng trưởng của DV
1995
9,5
4,8
13,6
9,8
1997
8,1
4,3
12,6
7,1
1999
4,8
5,2
7,7
2,3
2000
6,5
4,0
10,1
5,6
2001
6,8
4,2
14,2
6,8
2002
7,1
4,1
9,4
6,5
2003
7,2
3,2
10,3
6,6
2004
7,69
5,4
16,0
8,2
2005
8,4
5,0
10,7
8,5
2006
8,2
4,4
10,4
8,3
2007
8,5
3,3
10,6
8,7
Nguồn: Nguyễn Anh Tuấn, Giáo trình Kinh tế đối ngoại Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nôi 2005; Thời báo kinh tế Việt Nam các số năm 2006, 2007, 2008
Cơ cấu kinh tế của nước ta cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP cũng có sự dịch chuyển, từ mức 27,2% GDP năm 1995 xuống còn 20% GDP năm 2007. Nông nghiệp từng bước nhường vị trí làm cơ sở phát triển kinh tế sang cho ngành khác đặc biệt là dịch vụ (bảng 2). Tuy tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ phần lớn, nhưng phần lớn lao động Việt Nam vẫn làm trong khu vực nông nghiệp, cho dù tỷ lệ lao động nông nghiệp đã giảm từ 73,3% năm 1991 xuống còn 66% lực lượng lao động trong năm 2007.
Bảng 2: Cơ cấu nền kinh tế Việt Nam (%), 1995-2007
Chỉ số
1995
1996
1997
1999
2000
2003
2004
2007
GDP
100
100
100
100
100
100
100
100
Nông nghiệp
27,2
27,2
25,8
25,4
25,4
21,8
21,7
20,0
Công nghiêp
28,8
28,8
32,1
34,5
34,5
40,0
40,1
42.0
Dịch vụ
44,0
44,0
42,1
40,1
40,1
38,2
38,2
38,0
Nguồn: Nguyễn Anh Tuấn, Giáo trình Kinh tế đối ngoại Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nôi 2005; Thời báo kinh tế Việt Nam các số năm 2006, 2007, 2008
Trong nông nghiệp, Việt Nam có 4 ngành là (i) trồng trọt với các loại cây trồng tăng tương đối ổn định; (ii) chăn nuôi tăng trưởng không đều giữa các loại gia súc, gia cầm; (iii) thuỷ sản tăng trưởng đều đặn; (iv) lâm nghiệp với diện tích rừng tăng nhưng chưa đủ cung cấp nguyên liệu gỗ công nghiệp chế biến.
2. Các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp khi gia nhập WTO
2.1. Các cam kết cắt giảm trợ cấp
a. Đối với trợ cấp xuất khẩu
Nước ta cam kết bãi bỏ ngay trợ cấp xuất khẩu cho hàng nông sản kể từ khi ta được chính thức kết nạp vào WTO vào tháng 1/2007. Tuy nhiên, ta được bảo lưu quyền được hưởng một số qui định riêng của WTO dành cho một nước đang phát triển trong lĩnh vực này trong một thời gian nhất định.
b. Đối với trợ cấp sản xuất trong nước
Theo thông báo của Việt Nam cho WTO, tổng mức hỗ trợ sản xuất trong nước (Total AMS) giai đoạn cơ sở 1999-2001 là 3.961,59 tỷ VNĐ/năm. Các chính sách hỗ trợ của ta đa phần nằm trong diện “hộp xanh” và “Chương trình phát triển” dành cho các nước đang phát triển tầm trung bình. Đây là những nhóm được tự do áp dụng. Tuy nhiên, trong một số năm tới, ngân sách nước ta cũng chưa đủ sức tiếp tục hỗ trợ cho nông nghiệp ở mức này.
Vì là nước đang phát triển tầm trung bình, nên trong nhóm hỗ trợ “hộp đỏ” ta vẫn được phép trợ cấp tối đa 10% giá trị sản lượng hàng nông sản. Về nguyên tắc, những cam kết về việc loại bỏ trợ cấp đối với sản xuất hàng nông sản không ngăn cản Việt Nam tiếp tục hỗ trợ cho ngành sản xuất nông sản của nước ta. Tuy nhiên, hoàn toàn không dễ dàng để áp dụng được đày đủ các yêu cầu của Hiệp định nông nghiệp trong điều kiện kinh tế còn hạn hẹp như ở nước ta.
2.2 Cam kết mở cửa thị trường hàng nông sản
Trong tiến trình đàm phán song phương với 28 đối tác và đàm phán đa phương về mở cửa thị trường, Việt Nam đã cam kết giảm thuế nông sản 20% so với mức MFN hiện hành, tức là từ mức 23,5% như hiện nay xuống còn 20,9% (tính theo mức thuế trong hạn ngạch của một số mặt hàng) trong vòng từ 5 đến 7 năm tới. Mức độ giảm có sự khác nhau giữa các sản phẩm hay nhóm sản phẩm. Khái quát chung là các sản phẩm chế biến hiện có mức thuế cao (40%-50%) thì bị yêu cầu giảm nhiều hơn so với nông sản thô.
Những nhóm hàng cụ thể phải giảm nhiều là thịt, sữa, rau quả chế biến, thực phẩm chế biến, quả ôn đới (táo, lê, đào, nho, kiwi). Các mặt hàng nông sản thô ta có khả năng xuất khẩu lớn như gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều v.v…mức thuế quan không giảm hay giảm rất ít. Một số mặt hàng ta vẫn sẽ áp dụng hạn ngạch thuế quan trong một thời gian nữa là đường, mối, trứng, gia cầm, thuốc lá Trong số các sản phẩm thuộc phạm vi Hiệp định về nông nghiệp, cá và các sản phẩm từ cá không nằm trong khuôn khổ Hiệp định trên mà thuộc sản phẩm công nghiệp. Nhóm bốn nước US, EU, Canada, Nhật Bản đã có những cam kết về giảm thuế nhập khẩu đối với sản phẩm công nghiệp chế biến. Mặc dù mức thuế nhập khẩu đối với cá và các sản phẩm cá đã thấp hơn so với các sản phẩm công nghiệp khác, ví dụ như thấp hơn mức thuế của sản phẩm dược, điện tử, gỗ, nhưng so với các sản phẩm nông nghiệp thì mức thuế đối với cá và sản phẩm cá vẫn còn cao hơn.
và đã được các thành viên WTO chấp thuận.
2.3 Chính sách xuất nhập khẩu nông sản hiện nay của Việt Nam
Nội dung biểu thuế quan mới của ta hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc phân loại của danh mục hài hoà HS 8 chữ số. Theo đó tỷ trọng thuế quan ưu đãi tăng lên, tỷ trọng thuế thông thường giảm đi. Mức thuế quan hàng nông sản cũng giảm xuống. Điều đó có nghĩa là ta đã mở rộng khả năng tiếp cận thị trường và tự do hoá thương mại cho các đối tác. Hiện tại, số dòng thuế hàng nông sản hưởng mức thuế suất bình quân 3,79% (trong ACFTA-EHP) là 365 dòng, mức thuế bình quân 3,83% là 1.182 dòng (trong CEPT), mức thuế bình quân 15% (trong ACFTA) là 1.162 dòng, mức thuế bình quân MFN 23,59% là 1.214 dòng, và mức thuế bình quân 27,26% trong BTA là 448 dòng.
Hiện nay ta không cấm nhập khẩu bất kỳ mặt hàng nông sản nào, chỉ có 1 mặt hàng phải xin giấy phép của Bộ Công thương, 8 mặt hàng phải xin giấy phép của Bộ NN & PTNT. Việt Nam cũng không áp đặt bất kỳ khoản phụ thu nhập khẩu nào đối với hàng nông sản.
Đối với xuất khẩu, Việt Nam cấm xuất khẩu 2 mặt hàng là (i) gỗ tròn và gỗ xẻ tự nhiên; (ii) động thực vật hoang dã quý hiếm thuộc nhóm IA-IB. Bộ NN & PTNT yêu cầu khi xuất khẩu 3 mặt hàng sau phải xin giấy phép của Bộ này là (i) động thực vật hoang dã quý hiếm thuộc nhóm IA-IB và theo công ước Cites; (ii) giống cây trồng, vật nuôi quí hiếm; (iii) củi than làm từ gỗ. Ta không áp đặt hạn ngạch đối với bất kỳ mặt hàng xuất khẩu hàng nông sản nào. Việt Nam đang mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu hàng nông sản cho các thành phần kinh tế.
3. Tác động và kiến nghị chính sách đối với sản xuấ...