Download miễn phí Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ
Lời nói đầu Trong những năm gần đây, công tác sửa chữa máy điện ở nước ta đang ngày càng được chú trọng và đầu tư phát triển. Sự phát triển đó được đánh dấu bằng việc cho ra đời hàng loạt thiết bị phục vụ cho việc sửa chữa máy điện, không ngoài mục đích đáp ứng nhu cầu phục hồi khả năng làm việc như ban đầu của máy điện.
Để làm được điều đó, người thợ cần hoàn thiện tất cả các khâu trong việc sửa chữa. Một trong những khâu có ý nghĩa rất quan trọng đó là quấn mới (hay quấn lại) các bối dây, trong đó việc san lô dây là một khâu đã làm tốn rất nhiều thời gian của người thợ. Chính vì vậy việc có một máy quấn dây sử dụng trong sửa chữa máy điện vừa an toàn vừa dễ sử dụng là điều rất cần thiết cho công tác sửa chữa máy điện.
Nắm bắt được nhu cầu cấp thiết đó, chúng em đã tiến hành nghiên cứu và thiết kế một sa bàn thực tập, với mong muốn góp phần làm giảm thời gian cũng như công sức của con người khi tham gia sửa chữa máy điện.
Với lòng say mê tìm hiểu và ham học hỏi chúng em đã cố gắng tận dụng tất cả những kiến thức đã học được từ thầy cô, bạn bè trong những năm tháng học tập vừa qua, mong hoàn thành tốt đề tài này. Những sản phẩm, những kết quả đạt được ngày hôm nay chưa phải lớn lao nhưng lại có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với chúng em. Bởi nó đánh dấu thành quả trong suốt một thời gian dài học tập và nhiên cứu của chúng em.
Cuối cùng sau hai tháng miệt mài cố gắng, chúng em đã thiết kế, chế tạo được một máy quấn dây đáp ứng được yêu cầu của đề tài như sau:
ã San được dây với khối lượng tối đa là 5kG.
ã Tự động ngắt khi có hiện tượng ngắn mạch huặc quá tải.
ã Thuận tiện trong sử dụng và bảo quản sửa chữa.
ã Sản phẩm đảm bảo yêu cầu về kỹ thuật và mỹ thuật.
Cùng với sản phẩm chúng em đã hoàn thành quển thuyết minh với hy vọng có thể trở thành tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên nghành kỹ thuật điện.
MỤC LỤC Nội dung TrangLời nói đầu
Phần dẫn nhập
1- Lý do chọn đề tài
2- Mục đích
3.- Đối tượng và phạm vi nhiên cứu
Chương I : Giới thiệu chung về công tác sửa chữa máy điện.
1.1- Mục đích, ý nghĩa, đặc điểm của công tác sửa chữa máy điện
1.2- Hiện trạng ngành công nghiệp sửa chữa máy điện ở Việt Nam
1.3- Quy trình công nghệ sửa chữa máy điện
1.3.1- Khái quát về quy trình
1.3.2- Quy trình tháo lắp động cơ điện
1.3.3- Một số dạng sai hỏng về điện và cách khắc phục
1.3.3.1- Động cơ điện không khởi động được khi không tải
1.3.3.2- Động cơ quay khi không tải, nhưng khi có tải thì dừng lại
1.3.3.3- Động cơ quay được nhưng tốc độ bị giảm không đạt trị số định mức
1.3.3.4- Động cơ không có đà để đưa tốc độ đến định mức và kêu vang
1.3.3.5- Động cơ ruột quấn quay khi rôto hở mạch
1.3.3.6- Động cơ bị quá nóng không cho phép
1.3.3.7- Động cơ có tiếng kêu không bình thường
1.3.3.8- Động cơ bị hư hỏng cách điện
1.3.4- Một số dạng sai hỏng về cơ và cách khắc phục
1.3.4.1- Động cơ bị hỏng ổ bạc, hỏng ổ bi, mòn trục
1.3.4.2- Động cơ bị cong trục
1.3.4.3- Động cơ bị bó cứng do mất đồng tâm
1.3.4.4- Tải không cân bằng
1.3.4.5- Có bavia ở lõi thép
1.3.4.6- Rôto không cân bằng
1.3.5- Kết luận
Chương II : Tính toán vẽ sơ đồ trải bộ dây quấn stato động cơ không đồng bộ ba pha.
2.1- Các yêu cầu cơ bản đối với cuộn dây ba pha
2.2- Các thông số cơ bản để thành lập sơ đồ dây quấn
2.3- Các khái niệm dây quấn cơ bản của máy điện xoay chiều
2.4- Đặc điểm và cách vẽ bộ dây quấn Stato động cơ điện xoay chiều ba pha kiểu đồng tâm xếp đơn.
2.4.1- Đặc điểm bộ dây quấn STATO động cơ điện xoay chiều ba pha kiểu đồng tâm xếp đơn.
2.4.2- Phương pháp tính toán vẽ sơ đồ trải bộ dây quấn STATO động cơ điện xoay chiều ba pha kiểu đồng tâm xếp đơn.
2.5- Đặc điểm và cách vẽ sơ đồ trải bộ dây quấn Stato động cơ điện ba pha kiểu đồng khuôn xếp đơn.
2.5.1- Đặc điểm bộ dây quấn STATO động cơ điện không đồng bộ 3 pha kiểu đồng khuôn xếp đơn.
2.5.2- Phương pháp tính toán vẽ sơ đồ trải bộ dây quấn STATO kiểu đồng khuôn đơn
2.6- Đặc điểm và cách vẽ sơ đồ trải bộ dây quấn Stato động cơ điện ba pha kiểy đồng khuôn xếp kép.
2.6.1- Đặc điểm bộ dây quấn động cơ điện không đồng bộ 3 pha kiểu đồng khuôn xếp kép
2.6.2- Phương pháp tính toán vẽ sơ đồ trải bộ dây quấn STATO động cơ không đồng bộ ba pha kiểu đồng khuôn xếp kép.
Chương III : Quy trình sửa chữa bộ dây quấn stato động cơ không đồng bộ
ba pha thông dụng
3.1- Đặc điểm chung của cuộn dây ba pha
3.2- Quy trình sửa chữa bộ dây quấn
3.2.1- Khảo sát ống dây
3.2.2- Tháo gỡ ống dây và lấy số liệu
3.2.3- Làm khuôn quấn dây
3.2.4- Quấn bối dây
3.2.5- Làm giấy lót
3.2.6- Lồng đấu dây
3.2.7- Cột bó vận hành chạy thử
3.2.8- Tẩm, sấy ống dây
Chương IV : Thiết kế, chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng
bộ ba pha, bộ dây quấn kiểu xếp kép
4.1- Mục đích
4.2- Yêu cầu
4.3- Hình thức
4.4- Mô hình
4.5. Cách thức đấu nối
http://s1.luanvan.co/qYjQuXJz1boKCeiU9qAb3in9SJBEGxos/swf/2013/07/11/thiet_ke_che_tao_sa_ban_thuc_tap_dau_day_dong_co_k.5LfhcoUC5b.swf luanvanco /luan-van/de-tai-ung-dung-tren-liketly-32349/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
một bên (gồm một tổ bối dây) kim của milivôn kế chỉ theo chièu ngược lại.Hình 1.10. Cách tìm chỗ chạm pha với vỏ.
Hình 1.11. Cách tìm bối dây chạm mát
Tổ bối dây bị hư hỏng cách điện dẫn đến chạm chập vỏ là tổ bối dây nằm giữa 2 bên có kim đồng hồ chỉ 2 chiều ngược nhau (dù một đầu đồng hồ cắm ra vỏ, một đầu cắm lần lượt cắm vào từng đầu của bối dây này).
Để tiếp tục tìm ra bối nào trong tổ bối bị chạm vỏ, ta cần tháo rời từng bối và tiến hành đo sụt áp từng bối dây theo cách tương tự như trên. Hình 1.11 trình bày một tổ bối có 4 bối dây (còn gọi là bin dây) có một bối hay bin bị chạm vỏ. Cuối cùng, ta sẽ xác định được bối dây nào bị chạm mát. Biết được bối dây bị chạm. Ta xác định được rãnh chạm mát và có thể dùng phương pháp lồng luồn để khôi phục động cơ một cách tiết kiệm nhất.
Xác định chạm chập vòng dây.
Sau khi đã xác định được không có chạm chập pha - vỏ, pha- pha mà động cơ vẫn có hiện tượng kêu và quá nóng cục bộ. Ta đo cường độ dòng điện 3 pha thấy mất cân bằng ngay cả khi không có tải và khi đo điện trở một chiều từng pha thấy chênh lệch ta có thể xác định sơ bộ là có chạm chập vòng dây.
Sau đó tháo rút rô to và tiến hành kiểm tra chạm chập bằng“rô-nha”như hình 1.12.
Trước khi kiểm tra cần tháo rời các mạch đấu song song trong từng pha và cần tháo cầu đấu sao hay tam giác ở bản cực động cơ.
Rô- nha làm việc theo nguyên lý cảm ứng điện từ. Khi có chạm chập vòng dây, một thanh thép lá đặt giữa “rô-nha” và các miệng rãnh stato khi chạm chập vòng dây, dưới tác dụng của từ trường biến thiên của “rô-nha” khép qua lõi thép stato, trong các vòng dây ngắn mạch sẽ xuất hiện dòng điện cảm ứng.
Dòng điện này chạy trong dây dẫn trong rãnh lại sinh ra từ trường xoay chiều móc vòng qua phần răng và khép mạch qua lá thép thử. Kết quả là thép thử bị hút chặt xuống rãnh (giữa2 răng). khi đó ta biết có chạm chập vòng dây ở rãnh đó.
Cách sấy và tẩm cuộn dây máy điện:
Kỹ thuật sấy và tẩm cuộn dây động cơ điện có rất nhiều kiểu từ đơn giản như sấy bằng đèn điện, bằng khí nóng tẩm sơn bằng cách dội, quét... Đến hiện đại như: Tẩm sấy trong lò tẩm sấy chân không, có áp lực tẩm. Tuy nhiên, trong sửa chữa người ta thường dùng cách đơn giản nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sấy như sấy bằng dòng điện trực tiếp chạy trong cuộn dây động cơ, sấy bằng dòng cảm ứng gián tiếp...
1.3.4. Một số dạng sai hỏng về cơ và cách khắc phục:
1.3.4.1- Động cơ bị hỏng ổ bạc, hỏng ổ bi, mòn trục.
Ổ bạc, ổ bi cùng với 2 nắp có nhiệm vụ định vị cho rô to và stato được đồng tâm để khi quay không bị chạm vầo nhau. Đồng thời làm giảm ma sát giữa các bộ phận chuyển động với bộ phận cố định. Ổ bạc hay ổ bi được gọi là tốt nếu khi lắc đầu trục không thấy có độ rơ ngang, khi ổ bạc, ổ bi hay trục mòn hay ô van thì động cơ quay có tiếng gõ kèm theo hiện tượng rung, lắc. Trường hợp nặng có thể bị sát cốt hay không thể kéo được tải. Nếu kiểm tra bằng căn lá sẽ thấy khe hở giữa rô to và stato là không đều nhau. Trong khi chế tạo và lắp ráp người ta rất quan tâm đến việc giữ cho khe hở được đồng đều về mọi phía.
Trong mỗi tổ bối dây luôn có từng tổ bối dây đối diện nhau qua tâm. Điều đó tất yếu dẫn đến việc có từng cặp cực cũng đối diện nhau và do đó lực từ kéo rôto đều về mọi phía. Nếu một phía nào đó mà rô to quá gần với stato thì rô to bị kéo mạnh hơn về phía đó làm cho động cơ quay không thể êm tuyệt đối được lúc này nếu ổ bạc hay ổ bi mà bi mòn thì rô to sẽ bị dao động theo chiều ngang gây ra tiếng gõ giữa trục với ổ hay tiếng va chạm giữa rô to và stato gọi là hiện tượng sát cốt .
Ổ bạc hay ổ bi có thể mòn đều có thể bị ô van nếu động cơ được nối với tải bằng băng đai hay xích . Thông thường, người ta chế tạo động cơ có trục cứng hơn bạc để cho trục không bị mài mòn nhưng trên thực tế có nhiều trường hợp, do chế độ bảo dưỡng không hợp lý, trục vẫn bị mòn ở chỗ tiếp xúc với ổ bạc. Trong trường hợp này, hậu quả cũng tương tự như hiện tượng bạc bị mòn .
Khi ổ bạc, ổ bi hay trục bị mòn nhẹ hay gặp trường hợp động cơ có khe hở lớn thì biểu hiện ra bên ngoài chỉ có tiếng gõ to kèm theo hiện tượng rung lắc nhẹ rất dễ phán đoán nhưng khi độ mòn tăng lên thì hiện % máy thì quay bình thường nhưng sau khoảng thời gian ngắn thì tiếng gõ to dần, vận tốc giảm kèm theo hiện tượng rung lắc và nóng bầu. Nếu muốn khe hở giữa rô to và stato còn nằm trong giới hạn cho phép hay không, phải dùng căn lá để thử. Hãy dùng các căn lá có chiêù dày từ 0,1mm 1mm, luồn dọc theo khe hở điểm đối diện qua trục động cơ.
Phải chọn các điểm mà ở phần không có sơn cách điện hay bụi bẩn bám vào không để lọt căn lá vào khe miệng rãnh. Đến lá căn nào mà khe hở vừa khít với chiều dày lá căn thì đọc trị số khe hở ở vị trí đó theo chiều dày lá căn (số ghi trên từng lá căn ). Nếu thấy trị số đo ở vị trí đã chọn sai lệch nhau không quá 20% thì có nghĩa là độ lệch đó nằm trong giớ hạn cho phép . Quay rô to sang vị trí khác nhau mà vẫn thu được kết quả tương tự thì có thể khẳng định là trục, bạc hay ổ bi chưa cần sửa chữa. Nếu kết quả đo sai, lệch quá 20% thì phải tháo rời rô to ra để xem xét từng chi tiết .
Kiểm tra trục và bạc thì phải dùng ampe và thước cặp, còn kiểm tra vòng bi thì phải dùng lá căn hay lắc bằng tay .
Trong trường hợp này, hỏng ổ bi là đơn giản nhất, chỉ cần chọn vòng bi cùng loại thay vào là xong còn nếu hỏng ổ bạc hay mòn trục thì khá phiền phức. Một khi bạc đã quá dơ thì trục cũng sẽ bị gợn hay ô van. Nếu gia công bạc mới mà lắp lọt được bên ngoài thì vào tới bên trong lại bị hỏng. Bởi vậy người ta phải chống tâm hai đầu trục bên máy mài mòn, mài cho đường kính mặt trụ từ trong ra ngoài đều nhau rồi mới ra công bạc theo đường kính mới.
Để dùng bền, trục và bạc phải được gia công theo công nghệ riêng bằng vật liệu đặc trưng có thể thấm được dầu bôi trơn và chịu mài mòn tốt, sao cho đảm bảo trơn kít độ bóng đạt từ 7 trở lên. Nếu gia công không đúng quy trình công nghệ thì chỉ vài tháng là lại hỏng.
Trường hợp không có vật liệu đặc trưng thì có thể chữa vận dụng bằng cách mạ trục hay tóp bạc.
Nếu trục không bị gợn thì tóp bạc là đơn giản nhất. Hãy dùng cưa xẻ một rãnh hơi chéo theo chiều dài thân trục rồi vỗ nhẹ đều xung quanh cho lỗ bạc bé dần lại đến khi vừa khít với trục là được.
Nếu trục bị gợn thì phải áp dụng phương pháp mạ trục. Hãy mạ crôm cho phần trục nằm trong ổ bạc dày lên một lớp rồi chồng trên máy, mài cho đến khi vừa khít với lỗ bạc đã được sửa tròn là được làm như thế thì dùng bền không kém gì bạc mới cùng loại.
Ngày nay, việc sửa chữa và thay thế trục, bạc có thuận lợi hơn nhiều nhờ những vật liệu đặc trưng và nhờ những tùng gia công sẵn của các nhà cung cấp.
1.3.4.2- Động cơ bị cong trục.
Động cơ làm việc ...