anthikimngoc
New Member
Download miễn phí Đề tài Thực trạng phát triển và thu hút FDI vào khu công nghiệp - khu chế xuất
Trong những năm gần đây, nguồn ĐTNN vào Việt Namcó xu hướng giảm sút mạnh: năm 1999 chỉ bằng 21% năm 1998 và 6 tháng năm 2000 mặc dù có tăng cả về số dự án cũng như số vốn nhưng vẫn thấp hơn năm 1996. Nhưng đối với khả năng đầu tư vào KCN-KCX tuy không tăng mạnh nhưng không giảm nhanh so với tình hình đầu tư nước ngoài. Nguyên nhân của tình trạng trên là FDI vào Việt Nam trong những năm qua chủ yếu là từ Nhật Bản, các nước NICs và ASEAN, trong khi đó nền kinh tế của các nước này lại bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nên họ buộc phải cắt giảm đầu tư ra nước ngoài. Hơn nữa, trong khi Việt Nam thay đổi chính sách đầu tư (sửa đổi luật đầu tư năm 1996) đã làm cho các nhà đầu tư e ngại chờ đợi thì những nước thu hút đầu tư lớn như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước trong khu vực lại dang triêt để thực hiện chính sách thu hút FDI
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-04-01-de_tai_thuc_trang_phat_trien_va_thu_hut_fdi_vao_kh.qNmE1AbtaN.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-66329/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
hiệu quả hoạt động của KCN-KCX từ tháng 10 năm1991 Chính Phủ đã ban hành quy chế về KCX và tháng 4 năm 1997 đã ban hành quy chế về KCN. Hoạt động của KCN-KCX đã troẻ thành một nét mới đặc thù trong nền kinh tế đất nước, góp phần không nhỏ và sự phát triển kinh tế.chương II : Thực trạng phát triển và thu hút FDI vào KCN-KCX
I - Thực trạng thu hút FDI vào việt nam thời gian qua
Cùng với việc ban hành Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam cuối năm 1987, hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế năng động này ngày càng có vai trò quạn trọng, bổ sung nguồn vốn và đóng góp tích cực cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong những năm 1991 đến 1995, vốn FDI chiếm 25,7% và từ năm 1996 đến nay, chiếm gần 30% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội, thúc đẩy khai thác phát huy nhiều nguồn lực trong nước, góp phần giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế hàng năm. Tỷ lệ đóng góp của khu vực ĐTTTNN trong GDP cũng tăng dần qua các năm, từ năm 1992 đến năm1999 lần lượt là :2%; 3,6%; 6,1%; 7,4%; 9,1%; 9%; 10,1% ;10,3%. Đến nay đã có gần 3100 dự án của 65 nước và vùng lãnh thổ được cấp giấy phép, tổng vốn đầu tư đăng ký gần 43 tỷ USD trong đó vốn tăng thêm của các dự án đang thực hiện là trên 5,5 tỷ USD. Trừ các dự án hết hạn, giải thể, hiện có khoảng 2500 dự án còn hiệu lực với vốn đăn ký đạt gần 36 tỷ USD. Vốn thực hiện đạt gần 18 tỷ USD và hiện chiếm 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. trong giai đoạn từ 1991 đến nay đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực mặc dù đã có nhiều thăng trầm, đặc biệt vào giai đoạn cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á năm1997. Qua bảng dưới đây chúng ta phần nào thấy được bức tranh toàn cảnh tình hình FDI vào Việt Nam
Năm
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000 6t tháng
Vốn đăng ký
1014
1658
2723
4404
7437
8298
5443
2356
151
483
Vốn thực hiện
213
394
1099
1946
2617
2646
3250
1956
100
600
% giẩm VĐK
-34,4
-43,6
-35,9
-43
% giảm VTH
-40
-20
-23
B1:Tình hình đầu tư qua cac năm( Triệu USD ) Nguồn : Bộ KH&ĐT
STT
Ngành
Tổng vốn đầu tư
Tỷ trọng (%)
1
Công nghiệp và xây dựng
18,5
51
2
Nông lâm ngư nghiệp
1,4
4
3
Dịch vụ
16,5
45
B2:Cơ cấu FDI theo ngành( Tỷ USD ) Nguồn : Bộ KH&ĐT
II - Sự hình thành và phát triển KCN -KCX ở Việt Nam
1. Qúa trình hình thành và phát triển của KCN - KCX
ở Việt Nam:
Kể từ khi KCX Tân Thuận - TpHCM ra đời vào cuối năm 1991, đến nay, cả nước đã hình thành mạng lưới 65 KCN và 3 KCX, phân bổ rộng trên các vùng của cả nước. Qúa trình xây dựng và phát triển các KCN-KCX Việt Nam chúng ta có thể chia thành hai giai đoạn:
1.1 Giai đoạn 1988-1994
Mặc dù, khái niệm KCX lần đầu tiên được đề cập trong Luật đầu tư nước ngoài vào năm 1987 nhưng cho đến tháng 10 năm 1991 thì Nghị định 322\HĐBT do Hội đồng Bộ trương ban hành thì định nghiã về KCX, chủ thể đầu tư, phạm vi đầu tư, hình thức đầu tư, tổ chức quản lý và một số chế độ có liên quan mới được quy định trong Nghị định này. Cũng theo quy chế này thì chủ đầu tư vào KCX sẽ được hưởng những ưu đãi như:
Doanh nghiệp được miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị, phụ tùng, vật tư, nguyên vật liệu và hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài; đặc biệt là miễn thuế đối với sản phẩm và hàng hoá xuất khẩu ra nước ngoài;
Về thuế lợi tức: doanh nghiệp thuộc khu vực sản xuất được hưởng mức thuế lợi tức 10% và được miễn thuế 4 năm kể tư khi kinh doanh bắt đầu có lãi; đối với doanh nghiệp thuộc lĩnh vực dịch vụ thì mức thuế xuất là 15% và thời gian miễn thuế là 2năm.
So với các doanh nghiệp bên ngoài KCX cũng như các nước trong khu vực thì các doanh nghiệp trong KCX của chúng ta được hưởng nhiều ưu đãi hơn: thuế xuất thấp hơn, danh mục ưu đãi dài hơn. Ví dụ như Trung Quốc mức thuế xuất 15%, 20% và thời gian miễn thuế là 2 năm cho cả hai khu vực sản xuất và dịch vụ.
Mặc dù quy chế KCX ban hành vào tháng 10 năm 1991 nhưng việc chuẩn bị để xây dựng KCX đầu tiên (KCX Tân Thuận, tp Hồ Chí Minh) đã được bắt đầu từ năm 1989. Sau đó trong giai đoạn này lần lượt 5 KCX đã ra đời :KCX Linh Trung - tp HCM (1992); KCX An Đồn- Đà Nẵng và KCX Hải Phòng (1993); KCX Nội Bài và Cần Thơ (1994). Diện tích toàn bộ 6 khu là 937 ha, tổng số vốn đầu tư của các dự án lên tới 315 triệu USD, dự tính có khoảng 690 đến 770 nhà máy, xí nghiệp được thành lập khi các KCX đi vào hoạt độngvà toàn bộ diện tích đi vào hoạt động.
Tuy nhiên sau 3 năm hoạt động, việc phát triển KCX tỏ ra không thành công: trong 6 khu chỉ có KCX Tân Thuận được đưa vào hoạt động; KCX Hải Phòng bị thu hồi giấy phép hoạt động; các khu còn lại tốc độ cây dựng rất chậm. Trong thời kỳ này chỉ có 28 trong cố 900 dự án đầu tư nước ngoài vào khu; số vốn đầu tư vào KCX chỉ đạt 3.3% số vốn đã đăng kí và 8% các nhà đầu tư vào KCX trong tổng số các nhà đầu tư được cấp giấy phép. Trong đó, riêng KCX Tân Thuận đã thu hút 89.% số dự án và 79.4% tổng số vốn đầu tư.
Tất cả các dự án doanh ngiệp KCX đều là các dự án 100% vốn nước ngoài. Việc đóng góp của KCX đối với xuất khẩu không đáng kể do thời kì này phần lớn các doanh nghiệp mới bắt đầu đi vào hoạt động.
1.2 Giai đoạn 1995 đến nay
Để tránh cho KCX gặp phải thất bại, kể từ tháng 10 năm 1995 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định cho phép chuyển các KCX hoạt động kém hiệu quả thành các KCN tập trung. Hai KCX Nội Bài Cần Thơ là những KCX đầu tiên trở thành KCN. Đồng thời ở Việt Nam xuất hiện loại hình hỗn hợp giữa KCX và KCN. Kể từ khi Nghị định 192/cp về quy chế KCN, KCN đã tỏ ra thích hợp hơn với điều kiện Việt Nam, khai thác được những lợi thế sẵn có của đất nước như:
Có thể thúc đẩy được xuất khẩu, mà vẫn khai thác được thị trường nội địa.
Những doanh nghiệp có khả năng xuất khẩu 100% thì có thể thành lập trong KCX nằm trong KCN được hưởng mọi ưu đãi như doanh nghiệp chế xuất.
Có thể thu hút được cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài vào khu.
Sau khi ban hành quy chế này, hàng loạt các KCN được ra đời, chủ yếu tập trung vào những vùng kinh tế trọng điểm : Hà Nội, Hải Phòng, TpHCM.
Trong những năm đầu, với chủ trương xây dựng KCN-KCX để tạo môi trường đầu tư hấp dẫn nhằm thu hút ĐTTTNN nên hầu hết các KCN- KCX đều do các doanh nghiệp có vốn nước ngoài đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Các KCN- KCX do nước ngoài xây dựng có hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, chất lượng cao có thể đáp ứng được đòi hỏi của các nhà đầu tư nước ngoài cho yêu cầu sản xuất sản xuất sản phẩm chất lượng cao, phục vụ xất khẩu. Từ năm 1995 các KCN do doanh nghiệp trong nước xây dựng ngày càng nhiều, thường tập trung ít vốn hơn, vừa xây dựng vừa khai thác đem vào kinh doanh, hướng chủ yếu vào ngành công nghiệp mang định hướng xuất khẩu nhưng vẫn có thể tiêu thụ trên thị trường trong nước và cũng đã tạo ra những kết quả đáng khích lệ.
Do quy chế KCN và quy chế KCX có nhiều điểm khác nhau nhưng cũng có nhiều điểm trùng nhau nên đến 24/4/1997 Chính Phủ đã ban hành Nghị ...