Đề tài Thực trạng xuất nhập khẩu của Việt Nam khi gia nhập WTO
Thị trường xuất khẩu phụ thuộc vào nhiều yếu tố: từ nguồn lực, chung loại, chất lượng hàng hóa, giá cả xuất khẩu, công tác quảng cáo, tiếp thị, đến thị trường xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu là yếu tố quan trọng, bởi nó tác động đến hầu hết các yếu tố khác và sự tăng tưởng của tổng kim ngạch XNK.
Dưới đây là diễn biến các thị trường xuất khẩu từ đầu năm 2007 đến nay.
Mỹ là nước nhập khẩu của VN nhiều nhất, chiếm 19,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Những mặt hàng chủ yếu vào thị trường này là dệt may, giày dép, gỗ và sản phẩm gỗ. VN đang ở vị thế xuất siêu. Tuy nhiên do bị giám sát chương trình bán phá giá giám sát nên ảnh hưởng dến xuất khẩu trong thời gian tới.
Nhật Bản là thị trường nhập khẩu lớn thứ hai thế giới(sau Mỹ) của VN và lớn nhất ở châu Á, chủ yếu xuất khẩu sang đây là: thủy sản nhưng gần đây dừng lại do dư quá nhiều lượng kháng sinh cho phép.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-11-30-de_tai_thuc_trang_xuat_nhap_khau_cua_viet_nam_khi.lZZyo4s6hQ.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-47842/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tỷ trọng xuất khẩu hàng nông-lâm-thuỷ sản còn lớn; hàng chế biến chủ yếu vẫn là hàng gia công. Chính vì vậy, giá trị gia tăng thực thu về thấp. Bên cạnh đó, do tỷ trọng xuất khẩu hàng nông - lâm - thuỷ sản lớn nên tăng trưởng xuất khẩu của nước ta không ổn định, phụ thuộc nhiều vào biến động giá cả trên thị trường thế giới, mà hầu hết là biến động bất lợi. Trong nhóm hàng nông lâm thủy sản, xuất khẩu thủy sản và gạo vẫn là 2 mặt hàng chủ lực nắm giữ kim ngạch xuất khẩu hàng đầu.
Xuất khẩu thủy sản
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của các năm gần đây: 2000 là 1,47 tỷ USD; 2001 là 1,8 tỷ USD; 2002 là 2 tỷ; 2003 là 2,2 tỷ; 2004 là 2,4 tỷ; 2005 là 2,7 tỷ và 2006 là 3,36 tỷ USD. Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản ước đạt hơn 3,36 tỷ USD, vượt hơn 400 triệu USD so kế hoạch năm; tổng sản lượng thuỷ sản ước đạt hơn 3,7 triệu tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng chiếm hơn 1,7 triệu tấn. Trong năm nay, thuỷ sản đứng thứ 4 trong số 9 mặt hàng có mặt ở câu lạc bộ 1 tỷ USD của Việt Nam. Bộ Thuỷ sản phấn đấu kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 3,5 tỷ USD trong năm 2007.
Xuất khẩu gạo
Lượng gạo xuất khẩu năm 2001 là 3,7 triệu tấn, năm 2002 là 3,2 triệu tấn, năm 2003 là 3,8 triệu tấn, năm 2004 là 4,1 triệu tấn. Năm 2005, lần đầu tiên xuất khẩu gạo đạt mức 5,3 triệu tấn thu về cho đất nước hơn 1,34 tỉ USD, giá gạo bình quân đạt 267 USD/tấn. Đây là mức cao nhất đạt được trên cả 3 chỉ tiêu số lượng, kim ngạch và giá cả xuất khẩu kể từ khi Việt Nam chính thức tham gia thị trường gạo thế giới. So với năm 2004, lượng gạo xuất khẩu tăng gần 1,2 triệu tấn (25%), kim ngạch tăng trên 400 triệu USD (45%) và giá cả tăng 48 USD/tấn (15%). Đây là năm thứ 17 Việt Nam liên tục xuất khẩu gạo, là năm thứ 3 đạt lượng gạo xuất khẩu trên 4 triệu tấn, năm thứ 2 đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD; và giữ vững vị trí thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo (vượt qua Ấn Độ). Năm 2005, gạo Việt Nam đã xâm nhập được vào các thị trường khó tính, yêu cầu chất lượng cao như Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ. Ở thị trường Nhật Bản, năm 2005 Việt Nam đã xuất khẩu được 90.000 tấn gạo thơm, tăng 60% so với năm trước và giá cũng cao hơn. Những tháng đầu năm 2007, lần thứ hai thắng thầu xuất khẩu gạo sang thị trường Nhật Bản với số lượng 28.000 tấn. Có được kết quả đó là do chất lượng gạo Việt Nam đã đạt 579 tiêu chuẩn khắt khe thay cho 250 tiêu chuẩn trước đây. Giá gạo xuất khẩu bình quân năm 2005 đạt 275 USD/tấn so với 232 USD/tấn năm 2004 và 188,2 USD/tấn năm 2003.
Nét đặc biệt quan trọng đánh dấu sự phát triển và tăng trưởng của xuất khẩu gạo Việt Nam thời kỳ 2001-2006 là, tính ổn định cao trong điều kiện có sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường thế giới, và năm sau cao hơn trước. Lượng gạo xuất khẩu bình quân trong thời kỳ này là 3.706 nghìn tấn/năm, so với 1.734 nghìn tấn/năm thời kỳ 1991-1995 và 3.663 nghìn tấn thời kỳ 1996-2000. Năm 2006 so với năm 1989, lượng gạo xuất khẩu gấp 3,57 lần, giá gạo tăng 63 USD/tấn (267-204 USD) và kim ngạch tăng gấp 7 lần (1.340/189 triệu USD). Kết quả đó đã được các tổ chức quốc tế đánh giá cao. Khác với các nước trong khu vực, sản xuất nông nghiệp nói chung và lúa nói riêng ở Việt Nam phát triển ổn định và tăng trưởng nhanh. Kết quả sản xuất và xuất khẩu gạo còn có tác dụng tăng thu nhập của nông dân trồng lúa hàng hóa do giá gạo trong nước tăng cao.
Nhóm hàng công nghiệp chế biến :
Sự thay đổi cơ cấu xuất khẩu sản phẩm chế biến thời kỳ 1985 – 2005
Hàm lượng xuất khẩu
Tỷ trọng (%)
Tốc độ tăng trưởng (%)
1985
2000
2005
1985 - 1990
1990 - 1995
1995 - 2000
2000-2005
1. Ngành chế biến dựa vào nguồn tài nguyên
74
17,6
17,8
21
23
5
4,8
2. Ngành chế tạo công nghệ thấp sử dụng nhiều lao động và sản xuất các cấu kiện, công nghệ trung bình
21,7
77
76,0
34,3
102
20
18
3. Công nghệ cao, sử dụng nhiều vốn
3,9
5,4
6,2
40
62,2
2,4
3,7
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá bình quân 5 năm 2001-2006 đạt 17,1%/năm. Trong số 7 mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD thì có 5 mặt hàng công nghiệp. Tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghiệp đạt 75,8%, trong đó công nghiệp chế biến đạt trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Nhìn chung, nhóm hàng công nghiệp chế biến đều có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như: mặt hàng dệt may đạt 6,2 tỷ USD, tăng 28%; mặt hàng giày dép đạt 3,7 tỷ USD, tăng 22% so với năm 2005. Năm 2006, EU đã áp đặt thuế chống bán phá giá tạm thời đối với sản phẩm giày có mũ da của Việt Nam, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam đã nhanh chóng chuyển dịch thị trường xuất khẩu vào Mỹ, do đó kim ngạch xuất khẩu vẫn đạt tốc độ tăng trưởng khá; sản phẩm gỗ đạt 1,9 tỷ USD, tăng 25%; Hàng điện tử, vi tính và linh kiện đạt 1,65 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm ngoái
Trong điều kiện lợi thế về các yếu tố tự nhiên và lao động rẻ đang ngày càng giảm dần và mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, thì sự chậm thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng nâng dần tỷ trọng hàng công nghệ cao sử dụng nhiều vốn là một hạn chế lớn đối với tăng trưởng xuất khẩu của nước ta. Trong dài hạn, sự chậm trễ này sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, giảm sức cạnh tranh và cải thiện cán cân thanh toán.
Nếu phân tích cơ cấu xuất khẩu của nước ta có tính đến cả mức độ giá trị tăng thêm, có thể thấy, tỷ trọng các mặt hàng tinh chế có giá trị gia tăng rất thấp, chỉ chiếm gần 30% (năm 2006).
Nhìn chung, cơ cấu xuất khẩu mặc dù đã có sự chuyển biến song tốc độ còn chậm. Tỷ trọng hàng xuất khẩu chế biến (công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp) còn quá khiêm tốn, trong khi hàng sơ chế và khoáng sản vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn. Sự chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu, nhìn chung, chưa thật bền vững, còn chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro. Cơ cấu xuất khẩu là một trong những hạn chế lớn nhất của nền kinh tế. Nếu không tăng nhanh tỷ trọng các mặt hàng chế biến, xét về dài hạn, tăng trưởng xuất khẩu sẽ khó có thể tiếp tục đà tăng cao như hiện nay.
2.2 Tình hình xuất nhập khẩu của việt nam sau khi gia nhập WTO
Nền kinh tế Việt Nam những tháng đầu tiên sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được đánh giá là tiếp tục phát triển tốt. Tốc độ tăng trưởng GDP quý I/2007 đạt 7,7%, là mức cao nhất kể từ năm 2001 đến nay, và dự báo tăng trưởng cả năm 2007 sẽ vượt mức kế hoạch 8,5%. Việc Việt Nam gia nhập WTO đã có những tác động đầu tiên đến một số lĩnh vực của nền kinh tế, nhất là xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
2.2.1. Giai đoạn sau khi gia nhập WTO đến 2007
2.2.1.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu
(ĐVT: triệu USD)
Năm
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Tổng số
Nhập siêu
2006
39.605
44.410
84.015
4.805
8 tháng đầu năm 2007
31.218
37.632
68.850
6.414
Nếu như trong năm 2006 cả nước xuất khẩu 39,6 tỷ USD, nhập khẩu 44,4 tỷ USD, c...
Download miễn phí Đề tài Thực trạng xuất nhập khẩu của Việt Nam khi gia nhập WTO
Thị trường xuất khẩu phụ thuộc vào nhiều yếu tố: từ nguồn lực, chung loại, chất lượng hàng hóa, giá cả xuất khẩu, công tác quảng cáo, tiếp thị, đến thị trường xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu là yếu tố quan trọng, bởi nó tác động đến hầu hết các yếu tố khác và sự tăng tưởng của tổng kim ngạch XNK.
Dưới đây là diễn biến các thị trường xuất khẩu từ đầu năm 2007 đến nay.
Mỹ là nước nhập khẩu của VN nhiều nhất, chiếm 19,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Những mặt hàng chủ yếu vào thị trường này là dệt may, giày dép, gỗ và sản phẩm gỗ. VN đang ở vị thế xuất siêu. Tuy nhiên do bị giám sát chương trình bán phá giá giám sát nên ảnh hưởng dến xuất khẩu trong thời gian tới.
Nhật Bản là thị trường nhập khẩu lớn thứ hai thế giới(sau Mỹ) của VN và lớn nhất ở châu Á, chủ yếu xuất khẩu sang đây là: thủy sản nhưng gần đây dừng lại do dư quá nhiều lượng kháng sinh cho phép.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-11-30-de_tai_thuc_trang_xuat_nhap_khau_cua_viet_nam_khi.lZZyo4s6hQ.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-47842/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
u tăng 25,2%. Trong giai đoạn 2001 - 2006 dù xuất khẩu liên tục tăng trưởng vượt kế hoạch nhưng nhìn chung vẫn còn những điểm yếu vốn đã tồn tại nhiều năm vẫn chưa được khắc phục.Tỷ trọng xuất khẩu hàng nông-lâm-thuỷ sản còn lớn; hàng chế biến chủ yếu vẫn là hàng gia công. Chính vì vậy, giá trị gia tăng thực thu về thấp. Bên cạnh đó, do tỷ trọng xuất khẩu hàng nông - lâm - thuỷ sản lớn nên tăng trưởng xuất khẩu của nước ta không ổn định, phụ thuộc nhiều vào biến động giá cả trên thị trường thế giới, mà hầu hết là biến động bất lợi. Trong nhóm hàng nông lâm thủy sản, xuất khẩu thủy sản và gạo vẫn là 2 mặt hàng chủ lực nắm giữ kim ngạch xuất khẩu hàng đầu.
Xuất khẩu thủy sản
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của các năm gần đây: 2000 là 1,47 tỷ USD; 2001 là 1,8 tỷ USD; 2002 là 2 tỷ; 2003 là 2,2 tỷ; 2004 là 2,4 tỷ; 2005 là 2,7 tỷ và 2006 là 3,36 tỷ USD. Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản ước đạt hơn 3,36 tỷ USD, vượt hơn 400 triệu USD so kế hoạch năm; tổng sản lượng thuỷ sản ước đạt hơn 3,7 triệu tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng chiếm hơn 1,7 triệu tấn. Trong năm nay, thuỷ sản đứng thứ 4 trong số 9 mặt hàng có mặt ở câu lạc bộ 1 tỷ USD của Việt Nam. Bộ Thuỷ sản phấn đấu kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 3,5 tỷ USD trong năm 2007.
Xuất khẩu gạo
Lượng gạo xuất khẩu năm 2001 là 3,7 triệu tấn, năm 2002 là 3,2 triệu tấn, năm 2003 là 3,8 triệu tấn, năm 2004 là 4,1 triệu tấn. Năm 2005, lần đầu tiên xuất khẩu gạo đạt mức 5,3 triệu tấn thu về cho đất nước hơn 1,34 tỉ USD, giá gạo bình quân đạt 267 USD/tấn. Đây là mức cao nhất đạt được trên cả 3 chỉ tiêu số lượng, kim ngạch và giá cả xuất khẩu kể từ khi Việt Nam chính thức tham gia thị trường gạo thế giới. So với năm 2004, lượng gạo xuất khẩu tăng gần 1,2 triệu tấn (25%), kim ngạch tăng trên 400 triệu USD (45%) và giá cả tăng 48 USD/tấn (15%). Đây là năm thứ 17 Việt Nam liên tục xuất khẩu gạo, là năm thứ 3 đạt lượng gạo xuất khẩu trên 4 triệu tấn, năm thứ 2 đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD; và giữ vững vị trí thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo (vượt qua Ấn Độ). Năm 2005, gạo Việt Nam đã xâm nhập được vào các thị trường khó tính, yêu cầu chất lượng cao như Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ. Ở thị trường Nhật Bản, năm 2005 Việt Nam đã xuất khẩu được 90.000 tấn gạo thơm, tăng 60% so với năm trước và giá cũng cao hơn. Những tháng đầu năm 2007, lần thứ hai thắng thầu xuất khẩu gạo sang thị trường Nhật Bản với số lượng 28.000 tấn. Có được kết quả đó là do chất lượng gạo Việt Nam đã đạt 579 tiêu chuẩn khắt khe thay cho 250 tiêu chuẩn trước đây. Giá gạo xuất khẩu bình quân năm 2005 đạt 275 USD/tấn so với 232 USD/tấn năm 2004 và 188,2 USD/tấn năm 2003.
Nét đặc biệt quan trọng đánh dấu sự phát triển và tăng trưởng của xuất khẩu gạo Việt Nam thời kỳ 2001-2006 là, tính ổn định cao trong điều kiện có sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường thế giới, và năm sau cao hơn trước. Lượng gạo xuất khẩu bình quân trong thời kỳ này là 3.706 nghìn tấn/năm, so với 1.734 nghìn tấn/năm thời kỳ 1991-1995 và 3.663 nghìn tấn thời kỳ 1996-2000. Năm 2006 so với năm 1989, lượng gạo xuất khẩu gấp 3,57 lần, giá gạo tăng 63 USD/tấn (267-204 USD) và kim ngạch tăng gấp 7 lần (1.340/189 triệu USD). Kết quả đó đã được các tổ chức quốc tế đánh giá cao. Khác với các nước trong khu vực, sản xuất nông nghiệp nói chung và lúa nói riêng ở Việt Nam phát triển ổn định và tăng trưởng nhanh. Kết quả sản xuất và xuất khẩu gạo còn có tác dụng tăng thu nhập của nông dân trồng lúa hàng hóa do giá gạo trong nước tăng cao.
Nhóm hàng công nghiệp chế biến :
Sự thay đổi cơ cấu xuất khẩu sản phẩm chế biến thời kỳ 1985 – 2005
Hàm lượng xuất khẩu
Tỷ trọng (%)
Tốc độ tăng trưởng (%)
1985
2000
2005
1985 - 1990
1990 - 1995
1995 - 2000
2000-2005
1. Ngành chế biến dựa vào nguồn tài nguyên
74
17,6
17,8
21
23
5
4,8
2. Ngành chế tạo công nghệ thấp sử dụng nhiều lao động và sản xuất các cấu kiện, công nghệ trung bình
21,7
77
76,0
34,3
102
20
18
3. Công nghệ cao, sử dụng nhiều vốn
3,9
5,4
6,2
40
62,2
2,4
3,7
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá bình quân 5 năm 2001-2006 đạt 17,1%/năm. Trong số 7 mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD thì có 5 mặt hàng công nghiệp. Tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghiệp đạt 75,8%, trong đó công nghiệp chế biến đạt trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Nhìn chung, nhóm hàng công nghiệp chế biến đều có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như: mặt hàng dệt may đạt 6,2 tỷ USD, tăng 28%; mặt hàng giày dép đạt 3,7 tỷ USD, tăng 22% so với năm 2005. Năm 2006, EU đã áp đặt thuế chống bán phá giá tạm thời đối với sản phẩm giày có mũ da của Việt Nam, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam đã nhanh chóng chuyển dịch thị trường xuất khẩu vào Mỹ, do đó kim ngạch xuất khẩu vẫn đạt tốc độ tăng trưởng khá; sản phẩm gỗ đạt 1,9 tỷ USD, tăng 25%; Hàng điện tử, vi tính và linh kiện đạt 1,65 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm ngoái
Trong điều kiện lợi thế về các yếu tố tự nhiên và lao động rẻ đang ngày càng giảm dần và mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, thì sự chậm thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng nâng dần tỷ trọng hàng công nghệ cao sử dụng nhiều vốn là một hạn chế lớn đối với tăng trưởng xuất khẩu của nước ta. Trong dài hạn, sự chậm trễ này sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, giảm sức cạnh tranh và cải thiện cán cân thanh toán.
Nếu phân tích cơ cấu xuất khẩu của nước ta có tính đến cả mức độ giá trị tăng thêm, có thể thấy, tỷ trọng các mặt hàng tinh chế có giá trị gia tăng rất thấp, chỉ chiếm gần 30% (năm 2006).
Nhìn chung, cơ cấu xuất khẩu mặc dù đã có sự chuyển biến song tốc độ còn chậm. Tỷ trọng hàng xuất khẩu chế biến (công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp) còn quá khiêm tốn, trong khi hàng sơ chế và khoáng sản vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn. Sự chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu, nhìn chung, chưa thật bền vững, còn chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro. Cơ cấu xuất khẩu là một trong những hạn chế lớn nhất của nền kinh tế. Nếu không tăng nhanh tỷ trọng các mặt hàng chế biến, xét về dài hạn, tăng trưởng xuất khẩu sẽ khó có thể tiếp tục đà tăng cao như hiện nay.
2.2 Tình hình xuất nhập khẩu của việt nam sau khi gia nhập WTO
Nền kinh tế Việt Nam những tháng đầu tiên sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được đánh giá là tiếp tục phát triển tốt. Tốc độ tăng trưởng GDP quý I/2007 đạt 7,7%, là mức cao nhất kể từ năm 2001 đến nay, và dự báo tăng trưởng cả năm 2007 sẽ vượt mức kế hoạch 8,5%. Việc Việt Nam gia nhập WTO đã có những tác động đầu tiên đến một số lĩnh vực của nền kinh tế, nhất là xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
2.2.1. Giai đoạn sau khi gia nhập WTO đến 2007
2.2.1.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu
(ĐVT: triệu USD)
Năm
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Tổng số
Nhập siêu
2006
39.605
44.410
84.015
4.805
8 tháng đầu năm 2007
31.218
37.632
68.850
6.414
Nếu như trong năm 2006 cả nước xuất khẩu 39,6 tỷ USD, nhập khẩu 44,4 tỷ USD, c...