Download miễn phí Luận văn Ý thức pháp luật với quá trình thực hiện dân chủ ở nông thôn nước ta hiện nay
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở NÔNG THÔN NƯỚC TA HIỆN NAY 8
1.1. Những biểu hiện ý thức pháp luật của người nông dân nước ta hiện nay 8
1.2. Vai trò của ý thức pháp luật trong quá trình thực hiện dân chủ ở nông thôn hiện nay 26
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN NHẰM THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở NÔNG THÔN NƯỚC TA HIỆN NAY (QUA THỰC TẾ MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC) 59
2.1. Thực trạng ý thức pháp luật của nông dân nước ta hiện nay 59
2.2. Một số giải pháp nâng cao ý thức pháp luật cho nông dân nhằm thực hiện dân chủ ở nông thôn nước ta hiện nay 84
KẾT LUẬN 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 111
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-03-23-luan_van_y_thuc_phap_luat_voi_qua_trinh_thuc_hien.vfvSuo3FCP.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-64278/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
n đó là mục tiêu hiện thực hóa quyền lực thuộc về nhân dân, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân lao động, quyền và nghĩa vụ của người nông dân được tôn trọng và được thể chế hóa bằng pháp luật. Đó là việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ cơ sở với phương châm: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" và ba cách của cơ chế: dân chủ trực tiếp, thay mặt và tự quản.1.2.2. Vai trò ý thức pháp luật với thực hiện dân chủ ở nông thôn nước ta hiện nay
1.2.2.1. Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật
Trước hết chúng ta cần làm rõ một số khái niệm liên quan và xem xét mối quan hệ dân chủ và pháp luật trong quy luật tự do và tất yếu ra sao?
Có thể nói, lịch sử từ trước tới nay, bất cứ Nhà nước dân chủ nào cũng đều phải dùng pháp luật để quản lý, điều hành xã hội, đồng thời tăng cường hoàn thiện các thiết chế tương ứng để duy trì trật tự xã hội ấy. "Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc", đó là mục tiêu lớn nhất của mỗi chế độ dân chủ nhất định. Tuy nhiên, một thực tế trở thành quy luật đó là không phải đối với người dân thứ gì Nhà nước cũng "luật hóa" nếu như quyền tự do (nhân quyền), quyền dân chủ (dân quyền) được Nhà nước bảo hộ thông qua quy phạm pháp luật là hoàn toàn đúng về nguyên tắc, song, con người không chỉ ăn ở mặc đi lại mà còn các nhu cầu vật chất, tinh thần khác nữa, chưa nói đến tâm lý, tình cảm, đạo đức, học vấn, sở thích... những việc như: trai làng nhất thiết phải tham gia Lễ hội của làng, những "quy ước" có tính chất "Luật bất thành văn" ở nông thôn Việt Nam không hẳn cần pháp luật can thiệp vào mà với tư cách là công dân, người dân trong chế độ dân chủ có quyền làm bất cứ điều gì mà pháp luật không cấm.
Mặt khác, để đảm bảo quyền tự do, quyền dân chủ của người dân, Nhà nước phải thể chế hóa bằng pháp luật chứ không thì xã hội trở nên rối loạn, vô chính phủ, bởi lẽ pháp luật sẽ là công cụ sắc bén, có uy quyền, có hiệu lực để đảm bảo cho mỗi người, mọi người trong xã hội không xâm phạm tự do của nhau, mọi người sống và hoạt động trong một khuôn khổ chung, theo một thước đo hành vi chung đó là pháp luật.
Vậy pháp luật là gì?
"Pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành (hay thừa nhận) và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự ổn định trong xã hội" [34, tr.160].
Chúng ta biết rằng pháp luật với tư cách là công cụ, là phương tiện những quy tắc có tính chung nhất của một Nhà nước, của giai cấp cầm quyền nhằm mục đích củng cố và bảo vệ trật tự mà xã hội mong muốn. Bởi vậy, nói đến một chế độ dân chủ, được xem như một chế độ chính trị - xã hội, một hình thức nhà nước, lẽ dĩ nhiên nó phải gắn liền với pháp luật, không thể có Nhà nước mà không có pháp luật, vì vậy, nhấn mạnh tầm quan trọng của pháp luật trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam, văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khóa VII) của Đảng ta đã chỉ rõ: "tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đó là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa" [14, tr.56].
Dân chủ và pháp luật là những phạm trù chính trị - xã hội. Đây cũng được xem là hai nhân tố cần thiết tương tác hữu cơ cấu thành lên một chỉnh thể đó là nhà nước pháp quyền. Bởi lẽ, để cho Nhà nước pháp quyền xuất hiện thứ nhất, phải có nhu cầu dân chủ, với việc xác định chủ thể quyền lực nhà nước là nhân dân. Do nhu cầu phát triển dân chủ đòi hỏi phải có phương pháp quản lý có hiệu quả nhằm đảm bảo quyền tự do dân chủ của nhân dân. Thứ hai, phương pháp quản lý đó chỉ có thể bằng pháp luật, bởi vì, pháp luật là đại lượng mang tính phổ biến. Có thể đo mức độ công bằng, là tiêu chuẩn điều chỉnh hành vi con người và là phương tiện xác định quyền và trách nhiệm của nhà nước cũng như của công dân.
Còn pháp chế là những chế định pháp luật bắt buộc của bộ máy quản lý pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, để duy trì trật tự pháp luật thể hiện tính quyền uy, tính nghiêm minh của pháp luật hiện hành, là sự tuân thủ và thực hiện đầy đủ pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan, đơn vị tổ chức và đối với công dân.
Vậy mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật trong quy luật tự do và tất yếu như thế nào?
- Phải khẳng định rằng, giữa dân chủ và pháp luật luôn có mối quan hệ khăng khít và tác động qua lại lẫn nhau. Nếu nói dân chủ cho mọi người, hay quyền làm chủ của mỗi công dân, quyền tự do của nhân dân cần được hiểu theo nghĩa rộng đó là quyền thực sự của mỗi công dân được làm bất cứ những gì mà pháp luật không cấm, nói một cách khác những gì ngoài "hành lang" pháp lý quy định. Còn hiểu theo nghĩa hẹp, trong mối quan hệ xã hội nhất định thì tự do của mỗi công dân phải tuân thủ theo những gì pháp luật cho phép.
Biết rằng, trong một xã hội nhất định, với tư cách công dân, sẽ không có tự do nếu không tuân thủ những nguyên tác, chế định chung bắt buộc tự do của mỗi người phải đặt trong quan hệ tự do của người khác, của cộng đồng và xã hội. Nói một cách khác, một người muốn có tự do cho mình, thì tất yếu phải tuân thủ những yêu cầu pháp lý cần thiết, lợi ích của họ phải gắn liền với nghĩa vụ trách nhiệm nhất định. Cũng bởi vậy, sẽ không có dân chủ thực chất nếu như các quy định pháp luật về dân chủ không được thực thi hay bị cắt xén, thực thi sai lệch. Tự do được đảm bảo bằng pháp luật nhưng nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan cá nhân. Cũng như dân chủ với tư cách là một hình thức nhà nước, dân chủ là cụ thể. Nên khi đề cập mối quan hệ dân chủ và pháp luật trong quy luật tự do và tất yếu, Mác quan niệm: Tự do được thừa nhận về pháp lý tồn tại trong Nhà nước dưới dạng pháp luật. Pháp luật - đó là những tiêu chuẩn tích cực, rõ ràng phổ biến, trong đó tự do có được tồn tại không phụ thuộc vào sự chuyên quyền của cá nhân riêng biệt. Bộ luật là kinh thánh tự do của nhân dân.
Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật rất khăng khít tác động qua lại với nhau, ở chỗ:
- Pháp luật ra đời cùng với Nhà nước, từ những quy tắc ứng xử chung đó là các quy phạm pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Theo Ph.Ăngghen "quy tắc đó, thoạt tiên là thói quen, sau đó trở thành pháp luật" [40, tr.378]. Pháp luật là công cụ quản lý xã hội của Nhà nước, của giai cấp cầm quyền. Với tính cách là một chế độ chính trị xã hội, dân chủ lấy pháp luật làm phương tiện đảm bảo thể chế chính trị ấy.
Pháp luật là phương tiện của dân chủ nhưng không rút ra từ dân chủ, mà rút ra từ nhu cầu bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị và nhu cầu của Nhà nước để quản lý xã hội.
Dân chủ với nghĩa quyền lực thuộc về nhâ...