hoak_gift

New Member
Luận văn: Tư tưởng của Erich Fromm về tự do trong tác phẩm " Trốn thoát tự do" : Luận văn ThS. Triết học: 60 22 03 01
Nhà xuất bản: ĐHKHXH&NV
Ngày: 2015
Miêu tả: Luận văn ThS. Triết học -- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xã hội phương Tây hiện đại, con người được giải phóng khỏi những sợi dây hữu hình trói buộc con người về tự nhiên cũng như về xã hội. Về mặt tự nhiên, con người dần nắm bắt được những quy luật của tự nhiên và “làm chủ” được nó. Về mặt xã hội, con người thoát khỏi sự kiềm chế của giáo hội, thoát khỏi những cơ cấu giai cấp cũ, trở thành một con người “tự do”. Tuy nhiên, con người lại bị trói buộc bằng những sợi dây mới – sợi dây vô hình, biến con người trở thành “nô lệ”. C. Mác đã chỉ ra rằng, người công nhân sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, nhưng anh ta không được sử dụng giá trị của cải vật chất ấy cho mình, mà quyền sử dụng giá trị của cải vật chất thuộc về nhà tư bản, dẫn đến hiện tượng “lao động tha hóa”. Người công nhân trở thành “nô lệ” cho những vật phẩm mà mình làm ra. Để khắc phục sự tha hóa trong lao động, Mác khẳng định cần xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Sự tha hóa không những diễn ra ở lĩnh vực sản xuất vật chất mà còn diễn ra trên “lĩnh vực tinh thần”, điều này đã được C.Mác tiên đoán. Erich Fromm tiếp thu những điểm tích cực từ Mác, đồng thời chỉ ra rằng, con người đề cao quá mức sức mạnh của khoa học, công nghệ dẫn đến, “tha hóa về mặt tinh thần”. Con người đánh mất đi những bản ngã vốn có của mình như: vui, buồn, yêu, ghét, giận dữ, đau khổ, v.v. Ngày nay, xã hội càng phát triển, vấn đề tha hóa về tinh thần càng lớn – con người đang đứng trước những thách thức mới được đặt ra có tính chất toàn cầu như: sự lo ngại về bm nguyên tử, sự hủy hoại môi trường, chủ nghĩa khủng bố. Nguyên nhân và cách giải quyết những khủng hoảng là những vấn đề đã được Erich Fromm, nhà phân tâm học, triết học người Đức đặt ra và luận giải từ những năm đầu của thế kỷ XX.
Erich Fromm với lý thuyết của ông thể hiện mối quan tâm với cả cá nhân và xã hội, cùng sự tương tác giữa chúng. Erich Fromm: “giải thích lập trường cơ bản là có một tập hợp các điều kiện xã hội lý tưởng và quả thật,
5

một xã hội lý tưởng cũng như một sự định hướng tối ưu mà một cá nhân có thể có đối với xã hội. Tuy nhiên, các lý tưởng này đã không đạt được, nên về cơ bản, các cá nhân là những sinh vật cô đơn, biệt lập. Mỗi cá nhân cố gắng để đạt được tự do, nhưng khi có tự do, sự cô lập lại đến, do đó cần cố gắng liên tục để thoát khỏi tự do đã đạt được” [43, tr.232].
Tự do của con người đã, đang và sẽ luôn là một vấn đề nóng hổi, thu hút sự quan tâm của các nhà tư tưởng. Có thể nói, nếu con người là đề tài trung tâm của mọi thời đại, là nguồn hứng khởi chủ yếu cho những suy tư triết học, thì tự do của con người chính là mục đích cuối cùng của những suy tư ấy. Trong lịch sử, vấn đề tự do đã được các nhà tư tưởng lý giải ở nhiều góc độ khác nhau. Từ góc nhìn tâm lý học xã hội, trong “Trốn thoát tự do”, E.Fromm đã "tập trung vào khía cạnh vốn là điểm cốt yếu của những cuộc khủng hoảng văn hóa, xã hội trong thời đại chúng ta: ý nghĩa của tự do đối với con người hiện đại" [16, tr.5].
Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được nâng cao. Dù vậy, đời sống văn hóa tinh thần lại phát triển không tương xứng, sự chênh lệch đó đang được đặt ra nhiều vấn đề bức xúc. Ở lĩnh vực văn hóa tinh thần, Việt Nam gặp phải những vẫn đề tương tự như các nước phương Tây. Trong xã hội phương Tây, con người được giải phóng khỏi sự áp bức bên ngoài, trong khi đó, vấn đề nội tâm được đặt ra rất gay gắt. Phân tâm học đã góp phần giải quyết những vấn đề liên quan đến nội tâm con người, đặc biệt là vấn đề “tha hóa tinh thần” của con người trong xã hội hiện đại.
Với những lí do trên, tác giả đã chọn đề tài Tư tưởng về tự do trong tác phẩm “Trốn thoát tự do” của Erich Fromm làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Phân tâm học của Erich Fromm nói riêng và trường phái phân tâm học nói chung có ảnh hưởng rất lớn đến chủ nghĩa nhân bản phi duy lý của thế kỷ XX. Phân tâm học còn ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội
6

đương đại. Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu về phân tâm học nói chung và phân tâm học của Erich Fromm ở Việt Nam còn chưa đa dạng, phong phú. Tư tưởng phân tâm học của Erich Fromm trong các tác phẩm phân tâm học nói chung hay các tác phẩm viết về triết học phương Tây hiện đại mới chỉ được trình bày một cách khái quát, sơ lược.
Trong cuốn Đại cương lịch sử triết học phương Tây hiện đại cuối thế kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ XX của Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh, các tác giả đã trình bày được rất nhiều nội dung trong tư tưởng của Fromm về bản tính con người. Các tác giả đã đưa ra nhận định: “Fromm xác định bản tính con người không phải là tổng thể các dục vọng được định trước về mặt sinh học đây bao giờ cũng là “bản tính thứ hai”, là câu trả lời có suy xét, như là quan hệ toàn vẹn với thế giới. Câu trả lời như vậy có thể là khát vọng về tự do, về sự công bằng, về chân lý, nhưng cũng hệt như vậy, cũng có thể là sự căm thù, sự quá tự mê, là sự theo thời, sự tàn bạo, thói thích phá hủy” [24, tr.79]. Tuy nhiên, cuốn sách này mới ở dạng đại cương nên chưa đưa ra được những phân tích cụ thể về tư tưởng tự do của Erich Fromm.
Trong cuốn Chủ nghĩa Mác phương Tây (trường phái Frankfurt) của Nguyễn Chí Hiếu – Đỗ Minh Hợp, hai tác giả đã nhận định rằng, “Các đại biểu của trường phái này đã cố gắng phát triển chủ nghĩa Mác nhằm phê phán xã hội tư sản hiện đại (lý thuyết phê phán) và chỉ ra con đường khắc phục “nô lệ”, “tha hóa” của con người phương Tây hiện đại”. Đồng thời, các tác giả cũng đã đề cập đến những phương diện tự do của Erich Fromm, nhưng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát.
Trong cuốn Lịch sử triết học phương Tây, tập 3 của Đỗ Minh Hợp, tác giả đã chỉ ra rằng, trong xã hội phương Tây hiện đại con người đã “tự do” về mặt sinh học, nhưng lại rơi vào tình trạng “tha hóa về tinh thần”. Cách thức giải quyết sự tha hóa đó là xóa bỏ sự xa cách giữa con người với xã hội. Tuy vậy, tác giả mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chưa đi sâu phân tích quan niệm “tự do”.
7

Luận văn thạc sĩ Quan niệm về con người trong phân tâm học của Erich Fromm của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền nghiên cứu con người và bản chất của con người, cũng như cách thức giải phóng con người của Erich Fromm. Tác giả luận văn trên đã phân tích sự giải phóng con người ở hai góc độ: thứ nhất là ở góc độ tình yêu – câu trả lời cho vấn đề hiện hữu, thứ hai là tôn giáo nhân bản. Tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền cũng đã chỉ ra một số con đường giải phóng con người, nhưng chưa đi sâu vào tư tưởng tự do của Erich Fromm.
Trong luận văn thạc sĩ của Phan Thị Hồng Nhung, Tư tưởng của Erich Fromm trong tác phẩm “Trốn thoát tự do”, tác giả đã tìm hiểu về “tự do tiêu cực” và “tự do tích cực”. Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu vào phân tích chi tiết hai nội dung tự do này.
Các công trình của các tác giả nói trên đã trình bày và phân tích sơ lược được những nội dung cơ bản trong học thuyết của Erich Fromm, nhưng mới chỉ nghiên cứu ở một mức độ nào đó một số khía cạnh trong tư tưởng về tự do của ông.
Do đó, tác giả luận văn này mong muốn trình bày một cách có hệ thống tư tưởng của Erich Fromm về tự do trong tác phẩm “Trốn thoát tự do”.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ tư tưởng về tự do của Erich Fromm trong tác phẩm “Trốn thoát tự do”.
Để đạt mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, trình bày hoàn cảnh và những tiền đề ra đời của tư tưởng về tự do trong tác phẩm “Trốn thoát tự do” của Erich Fromm.
Thứ hai, làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng tự do trong tác phẩm “Trốn thoát tự do” của Erich Fromm.
Thứ ba, đánh giá những giá trị và những hạn chế của tư tưởng về tự do trong tác phẩm “Trốn thoát tự do” của Erich Fromm.
8

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp logic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu và một số phương pháp khác.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư tưởng về tự do của Erich Fromm trong tác phẩm “Trốn thoát tự do”.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các nội dung của tác phẩm “Trốn thoát tự do” có liên quan tới vấn đề tự do.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Erich Fromm, về tư tưởng tự do của Erich Fromm.
Về mặt thực tiễn: Luận văn trên cơ sở xem xét tư tưởng tự do của Erich Fromm, cung cấp một hướng giải quyết việc khủng hoảng về mặt tinh thần trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở Việt Nam có thể tiếp thu và học tập trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể ở nước ta.
7. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương và 6 tiết.
9

CHƯƠNG 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG CỦA ERICH FROMM VỀ TỰ DO
1.1. Điều kiện kinh tế - chính trị văn hóa – xã hội phương Tây cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX
1.1.1. Điều kiện kinh tế - chính trị
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở châu Âu, những thành tựu khoa học được bổ sung thêm những khám phá mới. Đặc biệt, những nguồn năng lượng mới được phát hiện như: hơi đốt, xăng dầu, điện lực được sử dụng rộng rãi trong đời sống, những công cụ sử dụng điện năng ngày càng được ưa chuộng. Việc giải quyết được vấn đề truyền tải điện đi xa đã giải phóng nền công nghiệp ra khỏi những giới hạn về địa lí, tạo nên khả năng sử dụng điện ngay cả ở những nơi xa nguồn thủy năng. Cùng với công nghiệp, ngành giao thông vận tải cũng tiến bộ nhanh chóng, chiều dài đường sắt ngày một tăng lên. Ở đường biển, các tàu biển sử dụng tuốcbin chạy bằng sức nước hay động cơ nổ
10

thay thế cho thuyền buồm. Các phương tiện liên lạc như điện báo, điện thoại ngày càng được hoàn thiện. Đối với ngành truyền thông việc sáng chế ra rađiô và ngành liên lạc vô tuyến điện phát triển đã làm cho thông tin được phổ biến một cách nhanh chóng.
Những thay đổi trên lĩnh vực khoa học kỹ thuật làm cho kinh tế của châu Âu có những bước phát triển không ngừng, năng suất lao động tăng lên. Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế, trên toàn châu Âu diễn ra không đồng đều giữa các quốc gia do khả năng và trình độ ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật ở các quốc gia rất khác nhau. Trong giai đoạn 1870 – 1900, sản lượng gang sản xuất ở Anh tăng 1/3, Đức tăng 5 lần rưỡi và Mỹ tăng 8 lần. Tuy nhiên, những mặt khác Đức và Mỹ còn thua Anh như: ngành đóng tàu, dệt vải... Điều này làm cho vị trí của mỗi nước trong nền sản xuất của thế giới có sự thay đổi. Tuy nhiên, sự thay đổi đó chưa làm thay đổi được địa vị mỗi nước trong lĩnh vực thương nghiệp. Anh vẫn là quốc gia hàng đầu trong xuất khẩu hàng hóa với 19%, trong khi đó, Đức chỉ chiếm có 13%, Mỹ là 12% và Pháp là 9%. Chủ nghĩa tư bản ở các nước châu Âu phát triển không đồng đều và đang chuyển dần từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền.
Đức là nước công nghiệp hóa muộn hơn so với những nước khác ở châu Âu, nhưng nhờ áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và những kinh nghiệm của những nước khác mà kinh tế nước này phát triển một cách nhanh chóng và sớm trở thành một nền kinh tế quan trọng ở Châu Âu cũng như trên thế giới: “sản lượng những ngành công nghiệp nặng tăng lên rất nhanh, chiếm một tỉ lệ đáng kể trong tổng sản lượng thế giới. Về nhiều mặt, nó đuổi kịp và vượt Anh, Pháp. Mạng lưới đường sắt được mở rộng trên quy mô rất lớn. Các ngành công nghiệp mới như điện, hóa chất đều tăng tiến mạnh mẽ, chiếm vị trí hàng đầu châu Âu. Năm 1883, Đức sản xuất 2/3 thuốc nhuộm trên thế giới dùng cho ngành dệt. Ngành ngoại thương, nhất là việc xuất cảng các sản phẩm công nghiệp, tăng lên rõ rệt” [38, tr.246]. Sự phát
11

triển ngày càng lớn mạnh của nền công nghiệp nước Đức đã làm cho Chủ nghĩa tư bản ở đây chuyển thành chủ nghĩa tư bản lũng đoạn, sớm hình thành các tổ chức độc quyền. Tuy có nền công nghiệp hiện đại, nước Đức vẫn duy trì thủ công nghiệp trong một thời gian khá dài. Thợ làm nghề thủ công vào năm 80 khoảng - 2,3 triệu người, với khoảng 67 vạn người làm ở nhà một mình. Trong lĩnh vực nông nghiệp, nước Đức cũng có sự phát triển, nhưng chậm chạp do cuộc cách mạng dân chủ tư sản không triệt để. Ruộng đất vẫn được tập trung trong tay giai cấp địa chủ và quý tộc. Vùng đông Phổ, đã có sự tập trung ruộng đất tạo thành những trang trại lớn, áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới, nhưng sản xuất kiểu phong kiến vẫn được duy trì.
Erich Fromm sống ở Đức trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, lúc này, nền kinh tế nước Đức đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là công nghiệp. Sản lượng công nghiệp trong những ngành cơ bản ở Đức đứng hàng đầu châu Âu và thứ hai thế giới. Ở lĩnh vực sản xuất và thép đến năm 1912, Đức đã vượt cả Anh và Pháp. Các ngành khai thác mỏ, luyện kim, cơ khí, hóa chất, đường sắt, đóng tầu biển...đều có những bước tiến tương tự. Trong nông nghiệp, sản lượng cũng tăng lên nhanh chóng với việc cơ giới hóa lao động và sử dụng phân bón hóa học. Từ năm 1909 đến năm 1913, sản lượng lúa và khoai tăng gấp 2 lần so với năm 1894 đến 1897. Đức đã đẩy mạnh việc xuất khẩu tư bản ra nước ngoài với số vốn ngày một tăng mà chủ yếu là thị trường Đông Nam Âu, cận Đông và Nam Mỹ, bằng chứng là: “năm 1902, số vốn đó là 12,5 tỉ phrăng (bằng 1/5 Anh, 1/2 Pháp), đến năm 1914 lên 44 tỉ (gần bằng 1/2 Anh và 2/3 Pháp). Đồng thời trong khoảng 1909 – 1913, hàng xuất khẩu của Đức tăng 60%. Thị trường đầu tư chủ yếu của Đức là Đông nam Âu, cận đông và nam Mĩ” [38, tr.248]. Tuy nhiên, Đức vẫn là một đế quốc trẻ ít thuộc địa, những thị trường trên không thỏa mãn sự phát triển kinh tế và tham vọng của tư sản Đức. Do đó, nước Đức tìm cách tăng cường thuộc địa của mình bằng việc gây ra chiến tranh để chia lại thị trường thế giới. Đức chính là nước phát động, gây ra hai cuộc chiến tranh lớn trên thế giới: chiến tranh thế giới thứ
12

nhất (1914 – 1918), chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945). Bên cạnh đó, cũng như các nước phát triển kinh tế theo con đường tư bản chủ nghĩa khác, kinh tế nước Đức không tránh khỏi những cuộc khủng hoảng có chu kì. Nhà sử học Norman Davies đã nhận định về nước Đức: “tiến trình công nghiệp hóa dữ dội của Đức đã xuất hiện chậm hơn Anh và Pháp. Sự thống nhất chính trị chỉ đến vào khoảng 1871. Hệ quả là đế quốc thực dân Đức không có những tầm cỡ tương xứng với sự kiêu hãnh và lòng dũng cảm của nó. Khách quan mà nói, tình thế bất lợi của Đức được tưởng tượng nhiều hơn là có thật: sự xâm nhập của kinh tế Đức vào những vùng kề cận tại Đông Âu là một sự bù đắp, còn tốt đẹp hơn là sở hữu những thuộc địa xa xôi. Tuy vậy, về mặt tâm lý, Đức cảm giác rất bực bội và không bằng lòng” [3, tr.770].
Châu Âu của thế kỷ XIX phát triển nhanh chóng về mặt kinh tế đã kéo theo tư tưởng khám phá bao trùm. Về chính trị, chiến tranh tưởng chừng đã chấm dứt với hội nghị Viên, nhưng quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản không ngừng diễn ra, đặc biệt là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với nhau, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản. Về cơ bản, châu Âu đã hòa bình, nhưng vẫn có những xung đột cục bộ. Hội nghị Viên xu hướng bảo thủ thắng lợi và họ vẫn muốn duy trì chế độ quân chủ chuyên chế, chưa chấp nhận xu hướng phát triển của các cuộc cách mạng tư sản đang nổ ra ở nhiều nơi.
Trong giai đoạn này, chủ nghĩa dân tộc cũng hình thành với quá trình hiện đại hóa. Nó dần trở thành hệ tư tưởng thống trị ở châu Âu và lan ra khắp thế giới. Chủ nghĩa dân tộc là tập hợp những ý tưởng có liên quan đến quốc gia – dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc hình thành do sự phát triển mạnh mẽ của các quốc gia châu Âu ở thế kỷ 19. Từ đó, nó lan sang các châu lục khác. Chủ nghĩa dân tộc tồn tại dưới hai dạng: chủ nghĩa dân tộc nhà nước và chủ nghĩa nhân dân hay sắc tộc. Chủ nghĩa dân tộc nhà nước được bảo vệ của thiết chế nhà nước. Chủ nghĩa nhân dân hay sắc tộc được dẫn dắt bởi nhóm người sống bên trong nhà nước và chống lại nhà nước đó.
13

Trong bối cảnh chính trị châu Âu như vậy, nước Đức không nằm ngoài những xu hướng chung đó, sự thống nhất chính trị của nước Đức đến vào năm 1871 sau khi cuộc đấu tranh thống nhất dẫn đến thắng lợi nhà nước Đức được thành lập. Trong hiến pháp nước Đức năm 1871 quy định, Đức là quốc gia liên bang với 22 bang và 3 thành phố. Ở các bang có chính phủ và vua riêng, có hệ thống hàng chính và giáo dục riêng. Trên toàn nước Đức, hội đồng liên bang gồm các đại biểu ở các bang và Quốc hội do bầu cử. Nhà vua có quyền hạn rất lớn như thống lĩnh quân đội, bổ nhiệm và cách chức thủ tướng, kí kết hiệp ước, ngoại giao, tuyên chiến...Vua có qu
Link Download bản DOC
Do Drive thay đổi chính sách, nên một số link cũ yêu cầu duyệt download.
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm vào Link, đợi vài giây sau đó bấm Get Website để tải:

 
Last edited by a moderator:

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác
Tạo bởi Tiêu đề Blog Lượt trả lời Ngày
R Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay Môn đại cương 0
D Tư tưởng chính danh của Khổng Tử và ý nghĩa trong việc tuyển chọn cán bộ Văn hóa, Xã hội 0
D giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chiến lược trồng người Văn hóa, Xã hội 0
D Slide Nội dung cơ bản của tư tưởng lão tử, rút ra ý nghĩa Văn hóa, Xã hội 0
D Nét tương đồng về tư tưởng của thach lam và nam cao trong truyện ngắn trước cách mạng tháng tám Luận văn Sư phạm 0
D Tìm hiểu sự vận dụng của Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản trong việc chỉnh đốn và đổi mới Đảng hiện nay Môn đại cương 0
D tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và sự vận dụng của đảng ta, liên hệ bản thân Y dược 0
D Tư tưởng Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức cách mạng và sự vận dụng tư tưởng đó và xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên hiện nay Môn đại cương 1
D Tư tưởng triết học của phơrăngxít bêcơn và sự ảnh hưởng của nó đến nền văn minh phương tây hiện đại Môn đại cương 0
C Sự ảnh hưởng của tư tưởng giới hạn đến sự phát triển của kinh tế học hiện đại Luận văn Kinh tế 0

Các chủ đề có liên quan khác

Top