Download miễn phí Các giao thức liên quan đến VoIP
MGCP là giao thức nội bộ của mạng IP, được sử dụng để trao đổi số liệu giữa gateway và gatekeeper nhằm hỗ trợ cho việc khởi tạo, giám sát, giải phóng,. kết nối giữa các điểm cuối. Còn H.323 là một hệ thống bao gồm nhiều phần tử như : gatekeeper, gateway, thiết bị đầu cuối,. và nó cung cấp các tiêu chuẩn nén/dãn dữ liệu âm thanh, hình ảnh,. còn các vấn đề liên quan tới báo hiệu, điều khiển,. dựa trên các khuyến nghị H.225, H.245. Xét về mặt hệ thống thì MGCP thuần tuý là giao thức điều khiển và báo hiệu, hỗ trợ cho các ứng dụng đa dịch vụ trong việc thiết lập và điều khiển kết nối, còn H.323 là hệ thống bao gồm nhiều tiêu chuẩn cho các thiết bị đầu cuối VoIP, H.323 sử dụng các tiêu chuẩn khác như : H.225, H.245 làm giao thức báo hiệu và điều khiển cho việc thiết lập, quản lý và giám sát các kết nối.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-01-07-cac_giao_thuc_lien_quan_den_voip.z7U86LqMAh.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-53802/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
g lượng cao.+ Bit R – yêu cầu độ tin cậy cao.
Ví dụ, nếu có nhiều đường tới đích, bộ chọn đường sẽ đọc trường này để chọn một đường. Điều này đã trở nên quan trọng trong giao thức chọn đường OSPF, giao thức chọn đường đầu tiên của IP. Nếu giao dịch đã chiếm vị trí truyền file bạn có thể thiết lập các bit là 0 0 1 để báo rằng bạn không muốn độ trễ thấp và thông lượng cao nhưng cần độ tin cậy cao. Các trường của TOS được thiết lập bởi các ứng dụng như (TELNET, FTP) và không chọn đường. Các bộ chọn đường chỉ đọc trường này và dựa vào đó chọn ra đường tối ưu cho datagram. Nó yêu cầu một bộ chọn đường có nhiều bảng chọn, mỗi bảng ứng với một kiểu dịch vụ.
- Total length: Đây là chiều dài của datagram đo bằng byte (trường này dài 16 bit do đó khu vực IP datagram dài 65535 byte).
Khi phải truyền một gói từ mạng rất lớn sang mạng khác, bộ chọn đường TCP/IP phải phân đoạn gói lớn thành các gói nhỏ hơn. Xét ví dụ, truyền một khung từ mạng Token Ring (kích thước truyền tối đa 4472 byte) tới mạng Ethernet (tối đa 1518 byte). TCP/IP sẽ thiết lập kích thước gói cho một liên kết. Nhưng nếu hai trạm đang thông tin bằng nhiều loại phương tiện, mỗi loại hỗ trợ kích thước truyền khác nhau? Việc phân đoạn thành các gói nhỏ thích hợp cho truyền trên mạng LAN hay mạng LAN phức hợp dùng tầng IP. Các trường sau được sử dụng để đạt được kết quả này.
- Identification, flags, fregment offset: Các trường này biểu thị cách phân đoạn một datagram quá lớn. IP cho phép trao đổi dữ liệu giữa các mạng có khả năng phân đoạn các gói.
Mỗi đầu IP của mỗi datagram đã phân đoạn hầu như giống nhau. Trường identification để nhận dạng các datagram được phân đoạn từ cùng một datagram lớn hơn. Nó kết hợp với địa chỉ IP nguồn để nhận dạng.
Trường flags biểu thị:
+ Dữ liệu đang tới có được phân đoạn hay không.
+ Phân đoạn hay không đối với một datagram.
Việc phân đoạn rất quan trọng khi truyền trên các mạng có kích thước khung khác nhau. Ta đã biết cầu (bridge) không có khả năng này. Khi nhận một gói quá lớn nó sẽ phát (forward) lên mạng và không làm gì cả. Các giao thức tầng trên sẽ timeout gói và trả lời theo. Khi một phiên làm việc thiết lập, hầu hết các giao thức có khả năng thương lưọng kích thước gói tối đa mà mỗi trạm có thể quản lý, do đó không ảnh hưởng tới hoạt động của cầu.
Các trường total length (tổng chiều dài) và fragment offset IP có thể xây dựng lại một datagram và chuyển nó tới phần mềm tầng cao hơn. Trường total length biểu thị tổng độ dài của một gói. Trường fragment offset biểu thị độ lệch từ đầu gói tới điểm mà tại đó dữ liệu sẽ được đặt vào trong đoạn dữ liệu để xây dựng lại gói (reconstruction).
- Trường Time to live (TTL): Có nhiều điều kiện lỗi làm cho một gói lặp vô hạn giữa các router (bộ chọn đường) trên internet. Khởi đầu gói được thiết lập tại trạm gốc (originator). Các router sử dụng trường này để đảm bảo các gói không bị lặp vô hạn trên mạng. Tại trạm phát trường này được thiết lập thời gian là một số giây, khi datagram qua mỗi router trường này sẽ bị giảm. Với tốc độ hiện nay của các router thường giảm. Một thuật toán là router đang nhận sẽ ghi thời gian một gói đến, và sau đó, khi phát (forward) gói, router sẽ giảm trường này đi một số giây mà datagram phải đợi để được phát đi. Không phải tất cả các thuật toán đều làm việc theo cách này. Thời gian giảm ít nhất là 1 giây. Router giảm trường này tới 0 sẽ huỷ gói tin và báo cho trạm gốc đã phát đi datagram.
Trường TTL cũng được thiết lập một thời gian xác định (ví dụ số khởi tạo thấp nhất 64) để đảm bảo một gói tồn tại trên mạng trong một khoảng thời gian xác định. Nhiều router cho phép người quản trị mạng thiết lập trường này một số bất kỳ từ 0 đến 255.
- Trường Protocol: Trường này dùng để biểu thị giao thức mức cao hơn IP (ví dụ TCP hay UDP). Có nhiều giao thức tồn tại trên giao thức IP. IP không quan tâm tới giao thức đang chạy trên nó. Thường các giao thức này là TCP hay UDP. Theo thứ tự IP biết phải chuyển đúng gói tin tới đúng thực thể phía trên, đó là mục đích của trường này.
- Trường Checksum: Đây là mã CRC _16 bit (kiểm tra dư thừa vòng). Nó đảm bảo tính toàn vẹn (integrity) của header. Một số CRC được tạo ra từ dữ liệu trong trường IP data và được đặt trong trường này bởi trạm truyền (transmitting station). Khi trạm nhận đọc dữ liệu, nó sẽ tính số CRC. Nếu hai số CRC không giống nhau, có một lỗi trong header và gói tin sẽ bị huỷ. Khi mỗi router nhận được datagram, nó sẽ tính lại checksum. Bởi vì, trường TTL bị thay đổi bởi mỗi router khi datagram truyền qua.
- Trường IP option: Về cơ bản, nó gồm thông tin về chọn đường (source routing), tìm vết (tracing a route), gán nhãn thời gian (time stamping) gói tin khi nó truyền qua các router và các đầu mục bí mật quân sự. Xin xem phần tham khảo ở cuối cuốn sách. Trường này có thể có hay không có trong header (nghĩa là cho phép độ dài header thay đổi).
- Các trường IP source và IP destination address (địa chỉ nguồn và đích): Rất quan trọng đối với người sử dụng khi khởi tạo trạm làm việc của họ hay cố truy nhập các trạm khác không sử dụng dịch vụ tên miền (DNS) hay cập nhật file host (up-to-date host file). Nó cho biết địa chỉ trạm đích gói tin phải tới và địa chỉ trạm gốc đã phát gói tin.
Tất cả các host trên internet dược định danh bởi địa chỉ. Địa chỉ IP rất quan trọng sẽ được bàn tới đầy đủ dưới đây.
A.1.2 Địa chỉ IP và giao thức phân giải địa chỉ ARP
Ta đã biết với mạng Ethernet và Token Ring có các địa chỉ MAC. Với giao thức TCP/IP các host được định danh bởi địa chỉ IP 32-bit. Đây được xem như một giao thức địa chỉ.
Mục đích đánh địa chỉ để IP thông tin với các host trên mạng hay internet. Địa chỉ IP xác định cả nút đặc biệt và số hiệu mạng của nó. Địa chỉ IP dài 32 bit chia làm 4 trường, mỗi trường 1 byte. Địa chỉ này có thể biểu diễn dưới dạng thập phân, cơ số 8, 16 và nhị phân. Thường địa chỉ IP viết dưới dạng thập phân cùng các dấu chấm.
Có hai cách gán địa chỉ IP, phụ thuộc cách kết nối của bạn. Nếu bạn nối với internet, địa chỉ mạng được gán thông qua điều hành trung tâm, như trung tâm thông tin mạng (Network Information Center - NIC). Nếu bạn không nối với internet, địa chỉ IP của bạn được gán một cách địa phương thông qua người quản trị mạng của bạn.
Khi NIC gán địa chỉ mạng của bạn, đó chỉ là số hiệu mạng còn phần địa chỉ host được gán một cách địa phương bởi người quản trị mạng.
XNS sử dụng địa chỉ MAC 48-bit như địa chỉ host của nó. IP được phát triển trước khi có LAN tốc độ cao, do đó, nó có sơ đồ số hiệu của riêng nó. Địa chỉ IP tương thích với địa chỉ tầng vật lí của Ethernet và Token Ring.
+ Khuôn dạng địa chỉ IP
Mỗi host trên mạng TCP/IP có một định danh duy nhất tậi tầng IP với một địa chỉ có dạng . Toàn bộ địa chỉ thường dùng để định danh một host, không có sự tách biệt giữa các trường. Thực tế, khó phân biệt giữa c...