justice_weasley

New Member

Download miễn phí Cạnh tranh và Tiến hóa của Cấu trúc Kinh doanh





Mặc dù cấu trúc của hệthống cung cấp của HVN có một sốthay đổi nhất định, quan hệbên
trong hệthống vẫn được duy trì ởdạng đóng. HVN mua những linh kiện với đặc tính kỹthuật
(specs) riêng và do Honda quyết định. Đối với những linh kiện liên quan tới máy, HVN chỉmua
sắm từnhững công ty con của Honda hay sản xuất trong nhà máy. Vềmặt thiết kế, hai công ty
của Honda chuyên vềnghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D) đặt tại Kumamoto, Nhật Bản và
tại Thái Lan cung cấp những thiết kếtrọn gói (“one set” designs) cho tất cảcác công ty con của
Honda cũng nhưnhững công ty sản xuất linh kiện cung cấp cho Honda. Thậm chí HVN, một
công ty con của Honda cũng không được tựý thay đổi thiết kế. Liên quan tới các cụm chi tiết,
mặc dù HVN chia sản phẩm thành một sốcụm chi tiết (sub-asemblies) nhất định như ống xả,
phanh, bơm dầu, bánh và mua những cụm chi tiết này từnhững thành viên của keiretsutại
Việt Nam nhưGMN, Ghoshi Thang Long và MAP, tuy vậy không có hình thức phát triển sản
phẩm theo hộp đen (blackbox product development – giao toàn bộviệc phát triển sản phẩm cho
nhà cung cấp) được sửdụng trong hệthống cung cấp của Honda. Gần đây, HVN cũng bắt đầu
cho phép những nhà cung cấp tìm kiếm những vật tưmới có tiêu chuẩn kỹthuật tương đồng
nhưng đặt dưới sựgiám sát chặt chẽcủa HVN.



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

n chung trong khu vực sẽ được gỡ bỏ từ năm 2007 tại 6 thành viên ban
đầu của ASEAN và năm 2012 tại tất cả các nước trong khu vực. Việc thực thi CEPT đã thúc đẩy
quá trình chuyên môn hóa tại khu vực ASEAN, bao gồm cả ngành xe máy.
Mô-đun hóa mở rộng trong ngành xe máy Trung Quốc đã tạo nên một thách thức với các nhà sản
xuất xe máy Nhật Bản không chỉ tại Trung Quốc mà còn ở các thị trường khác, trong đó có Việt
Nam. Do khi mô-đun hóa tạo ra một thị trường mới với các sản phẩm dựa trên các linh kiện
được tiêu chuẩn hóa rộng rãi, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng có thể khai thác những lợi thế
này nếu họ chuyển theo hướng mô-đun hóa. Nhìn một cách tổng quát, cấu trúc tích hợp là một
một đặc trưng của các công ty Nhật Bản giúp đạt hiệu quả kinh doanh cao trong dài hạn
(Fujimoto, Takeishi và Aoshima 2001). Tuy vậy với cấu trúc này, các công ty Nhật Bản lại
thường chậm hơn trong việc nhanh chónh giành vị trí có hiệu quả cao trong thị trường tăng
trưởng nhanh và có nhiều đột biến. Với sự chuyển dịch một phần sang cấu trúc mô-đun hóa, các
doanh nghiệp Nhật Bản có thể vượt qua những hạn chế của cấu trúc kinh doanh truyền thống để
đạt được lợi thế cạnh tranh trong ngắn hạn.
Phần tiếp theo sẽ khảo sát quá trình chuyển đổi cấu trúc kinh doanh tại một công ty Nhật Bản
hiện đang kinh doanh có hiệu quả tại Việt Nam và một số nhà sản xuất xe máy nội địa của Việt
Nam được sinh ra trong thời kỳ phát triển nhanh của thị trường xe máy. Nghiên cứu cũng làm rõ
tác động của việc thay đổi cấu trúc kinh doanh đối với lợi thế cạnh tranh mà công ty thu được.
6
III. Phát triển đột biến của ngành xe máy tại Việt Nam
Thị trường xe máy tại Việt Nam tăng trưởng mãnh liệt kể từ năm 1999. Trong khoảng từ năm
1999 tới 2002, quy mô của thị trường tăng gấp sáu lần. Nếu tính trên số lượng xe máy tiêu thụ,
Việt Nam hiện xếp thứ tám trên thị trường xe máy toàn cầu.
Bảng 2. Số lượng xe máy đăng ký tại Việt Nam qua các năm
Năm
Số lượng xe
máy trong cả
nước
Số lượng tiêu
thụ trong năm
So với năm
1999 (%)
So với năm
trước (%)
1999 5.549.267 343.139 100 -
2000 6.387.207 837.939 244 244
2001 8.359.042 1.971.835 576 235
2002 10.273.659 1.914.617 558 97
2003 11.546.682 1.291.023 376 67
Nguồn: Cục Cảnh sát Giao thông, Bộ Công an.
Trong khi thu nhập bình quân đầu người tăng với tốc độ bình quân 7% một năm, nhân tố cơ bản
đằng sau sự phát triển nhanh chóng của thị trường xe máy Việt Nam là việc giảm giá xe máy
mạnh từ khoảng trung bình US$2,200 năm 1998 xuống còn US$630 trong năm 2001 bởi sự thâm
nhập của xe máy giá rẻ có linh kiện được nhập khẩu từ Trung Quốc. Đoạn thị trường giá cao
(hơn US$1,000) chỉ tăng nhẹ trong khi đó thị trường xe máy giá thấp (dưới US$1,000) mở rộng
một cách nhanh chóng.
Một nhân tố khác ảnh hưởng tới ngành công nghiệp xe máy Việt Nam là chính sách của chính
phủ. Việc cấm nhập xe máy hoàn chỉnh kể từ giữa năm 1990 và một loạt những chính sách nhằm
khuyến khích sản xuất linh kiện trong nước từ năm 2000 đã có những tác động đáng chú ý. Công
cụ chủ yếu để thực hiện những chinh sách này là thuế và hạn ngạch nhập khẩu. Chính phủ Việt
Nam áp dụng thuế lũy tiến tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nội địa hóa (được xác định dựa trên tỷ lệ giữa
giá trị của linh kiện được sản xuất trong nước và giá trị của toàn thể sản phẩm). Thuế lũy tiến đã
có ảnh hưởng mạnh tới các nhà sản xuất xe máy trong việc xây dựng mạng lưới các nhà cung cấp
linh kiện. Hạn ngạch nhập khẩu linh kiện cũng là một công cụ đáng chú ý trong việc kiểm soát
ngành công nghiệp xe máy và bảo vệ nền sản xuất nội địa ở Việt Nam. Hạn ngạch nhập khẩu
được xác định cho từng công ty, dựa trên vốn, năng lực sản xuất và tỷ lệ nội địa hóa mà công ty
đạt được. Bên cạnh thuế và hạn ngạch, những yêu cầu về bảo vệ môi trường, giao thông cũng có
tác dụng hạn chế việc nhập khẩu linh kiện cũng như để điều khiển nền sản xuất trong nước.
Những chính sách này cũng có tác dụng làm tăng cường mối liên kết giữa các doanh nghiệp
trong ngành.
Các doanh nghiệp sản xuất xe máy tại Việt Nam được chia làm hai nhóm: các công ty có vốn
đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI- là những liên doanh với các công ty như Honda, Yamaha,
Suzuki và Sayang Motor của Đài Loan (tại Việt Nam là công ty SYM hay VMEP)); và những
công ty nội địa của Việt Nam. Hầu hết những công ty xe máy Việt Nam tham gia thị trường bằng
việc nhập khẩu và lắp ráp linh kiện từ Trung Quốc. Chỉ về sau này, khi thị trường xe máy Việt
Nam phát triển đột biến, các nhà lắp ráp xe máy nội địa mới bắt đầu sử dụng linh kiện sản xuất
trong nước. Các công ty xe máy nội địa chiếm lĩnh thị trường xe máy giá rẻ cho tới năm 2002,
khi Honda tấn công trở lại và khôi phục tỷ phần thị trường trên đoạn thị trường này.
Có thể nói sự phát triển đột biến của của ngành xe máy Việt Nam trong thời gian vừa qua là kết
quả của sự mở rộng tích tụ trong sản xuất xe máy khu vực ASEAN và mô-đun hóa trong ngành
xe máy Trung Quốc. Trong thị trường xe máy phát triển nhanh, những liên doanh nước ngoài và
7
các nhà sản xuất nội địa cạnh tranh khốc liệt và tỷ phần thị trường thay đổi nhanh chóng. Những
quyết định trong việc lựa chọn cấu trúc kinh doanh có tác động trực tiếp tới sức cạnh tranh của
các công ty xe máy tại thị trường Việt Nam.
Hình 2. Số lượng xe máy tiêu thụ tại các đoạn thị trường
0
500
1,000
1,500
2,000
2,500
1997 1998 1999 2000 2001 2002
1000 s¶n phÈm
Tæng sè
Gi¸ thÊp
Gi¸ cao
Ghi chú: Số lượng xe máy đã bán nhiều hơn số lượng xe máy đăng ký do có nhiều xe máy đang
lưu thông mà không có đăng ký
Nguồn: Bộ Thương mại, Bộ Công nghiệp, Bộ Công An
Hình 3. Tỷ phần thị trường của các công ty trong ngành xe máy Việt Nam
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Xe m¸y
kh¸c
Suzuki
Yamha
VMEP
Xe m¸y,
linh kiÖn
TQ
Honda
Nguồn: Bộ Thương mại, Bộ Công nghiệp, Bộ Công an
Phần tiếp theo là phân tích cấu trúc kinh doanh của các công ty xe máy đang hoạt động tại Việt
Nam trong giai đoạn 1999-2003 với hai nhóm công ty có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
8
(FDI) và các công ty nội địa. Là công ty FDI sản xuất xe máy lớn nhất, Công ty Honda Việt Nam
(HVN) được lựa chọn để phân tích. Với các công ty xe máy nội địa, bốn công ty được lựa chọn.
Các công ty này thay mặt cho các hình thức sở hữu khác nhau (sở hữu nhà nước, tư nhân và công
ty cổ phần), tham gia vào thị trường xe máy ở các thời điểm khác nhau và có nguồn lực cũng
như năng lực sản xuất khác nhau. Mười một phỏng vấn chuyên sâu đã được thực hiện từ tháng 8
đến tháng 12 năm 2003. Người được phỏng vấn là những giám đốc (tổng giám đốc hay giám
đốc bộ phận) của các công ty sản xuất lắp ráp xe máy và sản xuất linh kiện hay những nhân
viên của bộ phận mua sắm linh kiện của công ty.
IV. Công ty Honda Vietnam
1. Phát triển xe máy Wave Alpha
Công ty Honda Việt Nam (Honda Vietnam Company - HVN) là liên doanh giữa tập đ...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác
Tạo bởi Tiêu đề Blog Lượt trả lời Ngày
R Vấn đề cạnh tranh và chống độc quyền ở Việt Nam Kinh tế quốc tế 0
D Vị thế, yếu tố cản trở và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam Văn hóa, Xã hội 0
D Phân tích đối thủ cạnh tranh của công ty Ford Vietnam là hãng Mitsubishi và Chevrolet Luận văn Kinh tế 1
D Thực trạng công tác và một số giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh trong dự thầu xây dựng tại Công ty Xây dựng và Trang trí nội thất Bạch Đằng Khoa học kỹ thuật 0
D Cạnh tranh không lành mạnh: Thực trạng và những đề xuất xử lý vi phạm ở Việt Nam Luận văn Kinh tế 0
G Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng HUD1 Luận văn Kinh tế 0
E Đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty sản xuất kinh doanh đầu tư và dịch vụ Việt Hà Luận văn Kinh tế 0
T chiến lược kinh doanh sản phẩm dịch vụ Viễn thông và Internet nhằm nâng cao vị thế của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam trong giai đoạn cạnh tranh hội nhập Luận văn Kinh tế 0
L Nâng cao khả năng cạnh tranh xuất khẩu gạo của Công ty vận tải, xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà Khoa học Tự nhiên 0
R Giải pháp Marketing nâng cao khả năng cạnh tranh tại công ty Tạp phẩm và BHLĐ Luận văn Kinh tế 0

Các chủ đề có liên quan khác

Top