romeo_juliets
New Member
Download miễn phí Tiểu luận Chính sách đất đai
Những hạn chế yếu kém đó trong việc thực thi chính sách pháp luật đất đai đã dẫn đến những tồn tại:
- Sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng về đất đai thiếu rõ ràng, không chặt chẽ; việc đồng nhất các quyền của người sử dụng đối với các loại đất đai khác nhau đã dẫn đến nhiều bất cập trong các chính sách, biện pháp quản lý đối với các loại đất đai khác nhau.
- Luật pháp và các chính sách về đất đai đã quy định quyền sử dụng đất có giá trị và được đem ra trao đổi chuyển nhượng trên thị trường, song các chính sách đất đai chưa phù hợp với các yêu cầu và các quy luật hoạt động của nền kinh tế thị trường.
- Luật pháp và các chính sách về đất đai chưa thể hiện được nguyên tắc phân phối địa tô giữa người sử dụng đất và chủ sở hữu đất đai làm thất thoát các nguồn lợi do đất đai mang lại từ Nhà nước chuyển sang người sử dụng và chiếm giữ đất đai.
- Luật pháp đã thừa nhận sự tồn tại và phát triển của thị trường bất động sản song chưa có hệ thống luật pháp và chính sách quản lý và điều tiết hoạt động của thị trường này.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-03-14-tieu_luan_chinh_sach_dat_dai.NdqwZBBns5.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-63225/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
à yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất xã hội, nhất là đối với ngành công nghiệp sản xuất ra sản phẩm để nuôi sống con người và tạo ra nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và một số ngành khác.Trong nông nghiệp, đất đai được coi là tư liệu sản xuất đặc biệt vì nó vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động. Khi con người sử dụng đất đai như một phương tiện để thông qua đó mà tác động đến sản phẩm của mình một cách có mục đích thì khi đó đất đai là tư liệu lao động. Khi con người dùng công cụ, máy móc để tác động vào đất đai để biến đổi nó cho phù hợp với nhu cầu sản xuất của mình như làm thay đổi hình dạng và tính chất lý hóa của đất để thu được năng suất canh tác cao thì khi đó đất đai lại là đối tượng lao động.
Đất đai còn là mặt bằng cho các ngành sản xuất công nghiệp, xây dựng, vận tải, thương mại, du lịch..., để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Ngoài ra, đất đai tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước để tái đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thực hiện chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và trong nhiều trường hợp còn được dùng làm vốn góp trong liên doanh đầu tư, thu hút đầu tư nước ngoài.
Do đó, các quan hệ đất đai luôn là vấn đề được quan tâm đặc biệt, vì nó liên quan đến các quá trình kinh tế - xã hội của đất nước, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của mỗi cá nhân và toàn xã hội.
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là người thay mặt chủ sở hữu và với tư cách đó Nhà nước có quyền hưởng các lợi ích từ đất đai do thiên nhiên đem lại; có quyền chiếm hữu đất đai để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng...; có quyền thống nhất quản lý đất đai và ban hành các văn bản pháp luật về quản lý đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật đã ban hành.
Để phát huy được nguồn lực đất đai, khai thác, bảo tồn và sử dụng có hiệu quả nguồn lực đất đai cũng như việc thực thi pháp luật đất đai có hiệu quả, thì việc đổi mới chính sách đất đai cho phù hợp với đường lối phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhằm điều chỉnh một cách tốt nhất các quan hệ đất đai là một yêu cầu mang tính thời đại.
II. Chính sách đất đai và kết quả thực hiện chính sách pháp luật về đất đai trong quá trình đổi mới
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới xây dựng đất nước, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đưa đến việc người nông dân thực sự làm chủ trên mảnh đất được giao, từ đó tạo động lực quan trọng để thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đời sống kinh tế và ổn định chính trị - xã hội.
Chính sách đất đai có một vị trí hết sức quan trọng, mang tính tổng hợp cả về kinh tế, chính trị và xã hội. Từ khi đất nước giành được độc lập đến nay, trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể nhất định, Đảng và Nhà nước đều có những đổi mới về chính sách, pháp luật đất đai cho phù hợp với tình hình phát triển cụ thể, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng.
1. Những chính sách, pháp luật đất đai cơ bản ở Việt Nam từ đổi mới đến nay
Luật đất đai năm 1987 là một trong những luật đầu tiên nhằm cụ thể hóa đường lối đổi mới của Đại hội VI. Nội dung đổi mới được thể hiện: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý, giao quyền sử dụng cho các chủ cụ thể; xác định chế độ quản lý, chế độ sử dụng đất đai, quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Đây là một bước ngoặt, đánh dấu một trình độ phát triển mới của quản lý nhà nước về đất đai.
Tuy nhiên trong thực tiễn tổ chức thực hiện, Luật Đất đai này vẫn còn những hạn chế nhất định: Về cơ bản vẫn phản ánh cơ chế tập trung quan liêu, có sự bất cập giữa quan hệ đất đai đang dần chuyển sang tính chất vận động theo kinh tế thị trường với hành lang pháp lý điều chỉnh quá trình này vẫn theo cơ chế cũ chưa bắt nhịp được với yêu cầu cải cách của thực tiễn. Bên cạnh đó, quyền chủ động của người sử dụng đất chưa được thể hiện đầy đủ trong Luật, đất đai không được thừa nhận là có giá tuy trong thực tế - tính chất này vẫn tồn tại một cách không chính thức, thông qua thị trường "ngầm". Mặt khác việc thiếu quy định nhằm đảm bảo việc thực thi pháp luật đất đai đã dẫn đến việc thi hành pháp luật không nghiêm, việc lập quy hoạch sử dụng đất bị bỏ ngỏ, tình trạng tranh chấp đất diễn ra một cách phổ biến.
Đảng và Nhà nước nhận thức rõ những bất cập của pháp luật đất đai và sự cần thiết phải sử dụng chính sách mới để điều chỉnh. Để triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI tháng 12/1986, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 10 ngày 05/4/1988 chủ trương giao khoán ruộng đất ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp và được quyền tự chủ trong sản xuất. Đây là giai đoạn thể hiện rõ nhất những đổi mới trong chính sách đất đai của Đảng; tạo ra một động lực phát triển mạnh mẽ trong nông nghiệp. Các hộ nông dân được giao quyền sử dụng đất lâu dài và là người trực tiếp tổ chức, quản lý quá trình sản xuất. Theo lý luận của C.Mác, họ không những đã thu được lợi nhuận bình quân trong nông nghiệp mà còn thu được toàn bộ lợi nhuận siêu ngạch do kết quả của việc đầu tư trên diện tích đất canh tác mà họ được quyền sử dụng lâu dài, đó là địa tô chênh lệch 2. Chính sách đất đai về giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân thể hiện sự đúng đắn vì tạo ra sự phù hợp giữa quan hệ sở hữu về ruộng đất với trình độ phát triển còn thấp của lực lượng sản xuất nước ta trong thời điểm đó. Tuy nhiên đây cũng chỉ mang tính chất là một giải pháp quá độ của quá trình chuyển từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn trong điều kiện trình độ nền kinh tế nước ta còn thấp.
Đại hội Đảng lần thứ VII tháng 6 năm 1991 vẫn xác định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý và giao cho nông dân sử dụng lâu dài. Hội nghị Trung ương 2 khóa VII tháng 3 năm 1992 quyết định: Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất phải được pháp luật quy định cụ thể theo chiều hướng khuyến khích nông dân yên tâm đầu tư kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo điều kiện từng bước tích tụ ruộng đất trong giới hạn hợp lý để phát triển hàng hóa, đi đôi với mở rộng và phân công lao động và phân bố lao động gắn với quá trình công nghiệp hóa. Quy định rõ các điều kiện cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng ruộng đất, ngăn ngừa tình trạng người sống bằng nghề nông nghiệp không còn ruộng đất, người mua quyền sử dụng ruộng đất không phải để sản xuất mà để buôn bán ruộng đất, phát canh thu tô. Mức tập trung ruộng đất vào một hộ cũng phải quy định giới hạn về diện tích (hạn điền) tùy thuộc vào loại đ...