Download Đề tài Chính sách giữ gìn và phát triển văn hóa trong quá trình toàn cầu hóa ở Việt Nam

Download miễn phí Đề tài Chính sách giữ gìn và phát triển văn hóa trong quá trình toàn cầu hóa ở Việt Nam





Các văn kiện từ Ðại hội lần thứ VI đến Ðại hội lần thứ X của Ðảng đã thể hiện rất rõ quá trình đổi mới tư duy của Ðảng trong lý luận và thực tiễn, với một hệ thống gồm nhiều vấn đề, liên quan trực tiếp đến tất cả các lĩnh vực của xã hội, con người Việt Nam, trong đó có việc đặt ra, giải quyết quan hệ giữa văn hóa và phát triển. Trong quá trình đó, bám sát thực tiễn và tổng kết thực tiễn đổi mới của đất nước, Ðảng ta đã kế thừa, bổ sung, phát triển những quan điểm cơ bản được trình bày trong Ðề cương văn hóa Việt Nam (1943) - văn kiện đầu tiên có tính chất cương lĩnh của Ðảng ta về văn hóa, qua đó xây dựng các quan niệm mới, toàn diện, ngày càng sâu sắc về vị trí, vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội và đối với phát triển. Ðó là bước tiến rất quan trọng trong tư duy có tính chiến lược của Ðảng ta đối với sự phát triển bền vững của đất nước.



Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.

Tóm tắt nội dung:

ểu như một quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau sẽ trở nên phụ thuộc và liên kết với nhau.
Toàn cầu hóa là quá trình hình thành một chuỗi các liên kết ràng buộc giữa các chính phủ và các nhóm xã hội tạo lập nên một hệ thống thế giới hiện đại, quyết định hoạt động của cá thể và cộng đồng.
Toàn cầu hóa chỉ nên hiểu theo nghĩa kinh tế thế giới, nó là một quan hệ kinh tế mang tính phi lãnh thổ. Nó quyết định những cái không dừng lại ở cấp độ quốc gia hay lãnh thổ.
Theo Thomson, phá vỡ quan hệ kinh tế có thể dẫn đến sự phá vỡ văn hóa, chính trị. Đây là quan điểm được nhiều nhà chính trị ủng hộ.
Quan điểm của Phidel Castro: toàn cầu hóa là một quá trình lịch sử đang xác định khung cảnh thế giới. Đây là hiện tượng không thể đảo ngược, nó mang đặc trưng của các mối quan hệ tương tác kinh tế, dân tộc giữa các quốc gia không ngừng tăng lên, nó rút ngắn khoảng cách giữa các dân tộc trên thế giới.
Tóm lại, toàn cầu hóa là một quy luật mang tính xu hướng thế giới. Nhưng quan niệm về toàn cầu hóa và bản chất của toàn cầu hóa thì trong mỗi giai đoạn, trong mỗi quốc gia là khác nhau.
(Nguồn: Đề cương bài giảng Xã hội học chính trị, TS. Vũ Quang Hà)
Khái quát về văn hóa Việt Nam
Lãnh thổ Việt Nam nằm ở phần phía Đông của bán đảo Đông Dương, có 4.550km đường biên giới đất liền. Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào và Campuchia, phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông. Dải đất liền hình chữ S với diện tích 331.689km2, trải dài 1.650km từ vĩ độ 23o23’ Bắc đến 8o27’ Bắc theo hướng Bắc – Nam. Chỗ rộng nhất trên đất liền khoảng 500km và nơi hẹp nhất gần 50km. Việt Nam có 2 vùng đồng bằng màu mỡ: Đồng bằng Sông Hồng (Miền Bắc) và Đồng bằng Sông Cửu Long (Miền Nam). Hai đồng bằng nối liền bởi cao nguyên Miền Trung với dãy núi Trường Sơn hùng vĩ.
Thủ đô Hà Nội nằm ở trung tâm vùng Đồng bằng Sông Hồng cùng với TP.HCM nằm ở vùng hạ lưu sông Đồng Nai (Đông Nam Bộ) tạo nên ở hai đầu đất nước là hai trung tâm phát triển lớn nhất về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội.
Địa lý Việt Nam có vị trí khá đặc biệt. Đây cũng là điều kiện thuận lợi để Việt Nam có thể giao lưu với các nước trên thế giới và có cơ hội tiếp nhận ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa khác nhau, điển hình là văn hóa Phù Nam ở Miền Nam, văn hóa Champa ở Miền Trung, văn hóa Ấn Độ ở Miền Nam, văn hóa Trung Quốc ở Miền Bắc. Cộng đồng dân tộc Việt Nam có hơn 86 triệu người (năm 2009, nguồn Tổng cục thống kê) với 54 dân tộc anh em, trong đó người Kinh chiếm 85% Dân tộc Việt Nam. Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo và tín ngưỡng. Bên cạnh Phật Giáo và Công Giáo là hai tôn giáo phổ biến ở Việt Nam còn có các tôn giáo khác như: Hòa Hảo, Cao Đài, Tin Lành, Hồi Giáo cùng với nhiều loại tín ngưỡng trong dân gian.
Văn hóa của Việt Nam là một sự pha trộn đặc biệt giữa văn hóa cổ xưa cùng với văn hóa bản xứ của người Bách Việt. Với ảnh hưởng lớn của văn hóa Trung Hoa, văn hóa Việt Nam đã lập ra rất nhiều đặc điểm khá giống với những dân tộc của các nước Đông Á và khác những nước ở khu Thái Bình Dương (như là Campuchia, Lào và Thái Lan) - nơi vốn chịu một phần lớn ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ. Mặc dù ảnh hưởng Trung Hoa được coi là ảnh hưởng lớn nhất của văn hóa ngoại lai trên nền văn hóa cổ truyền Việt Nam. Bên cạnh đó còn chịu ảnh hưởng từ văn hóa Phương Tây, nhưng dân tộc Kinh vẫn giữ gìn được rất nhiều nét văn hóa của riêng mình. Cho tới ngày nay những nét riêng ấy vẫn rất quan trọng trong đời sống của người Việt.
Nghiên cứu lịch sử phát triển của Việt Nam các nhà khoa học nhận thấy mỗi dân tộc đều có nền văn hóa riêng, đó là biểu hiện của sức sống, sự phát triển đa sắc màu trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Mỗi nền văn hóa đều là thành tựu của mỗi dân tộc. Việt Nam còn có một nền văn hoá khá rộng lớn được hình thành vào khoảng nửa đầu thiên niên kỉ thứ nhất trước Công nguyên và phát triển rực rỡ vào giữa thiên niên kỷ này. Đó là văn hoá Đông Sơn. Nền văn hoá ấy phát triển cao so với các nền văn hoá đương thời khác trong khu vực, có những nét độc đáo riêng nhưng vẫn mang nhiều điểm đặc trưng của văn hoá vùng Đông Nam Á. Những con đường phát triển khác nhau của văn hoá bản địa tại các khu vực khác nhau (lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả…) đã hội tụ với nhau, hợp thành văn hoá Đông Sơn. Đây cũng là thời kỳ ra đời Nhà nước "phôi thai" đầu tiên của Việt Nam dưới hình thức cộng đồng liên làng và siêu làng (để chống giặc và đắp, giữ đê trồng lúa) từ đó các bộ lạc nguyên thuỷ phát triển thành dân tộc.
Khi tìm hiểu văn hóa Việt Nam, các nhà khoa học đã đặt văn hóa Việt trong mối quan hệ với các nền văn hóa để thấy được những nét tương đồng, cũng như những khác biệt và từ đó tìm thấy cái riêng trong bản sắc văn hóa Việt Nam. Mặc dù, chịu ảnh hưởng nhiều nền văn hóa nhưng văn hóa Việt Nam vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng. Điều đó chứng minh rằng văn hóa Việt Nam giàu bản sắc, có sức sống mãnh liệt trong suốt các giai đoạn lịch sử. Đó cũng là biểu hiện của nền văn hóa luôn ở thế dung hòa, vừa có khả năng tiếp thu những giá trị văn hóa khác vừa có thể bảo tồn những giá trị văn hóa của riêng mình để không bị đồng hóa, và có khả năng chống lại sự chi phối bởi các nền văn hóa khác. Điểm nổi bật trong bản sắc văn hóa Việt Nam là tinh thần yêu nước, yêu hòa bình, yêu độc lập, tự do. Hơn thế nữa, chủ nghĩa yêu nước đã trở thành yếu tố cốt lõi trong hệ tư tưởng Việt Nam.
Quá trình toàn cầu hóa ở Việt Nam hiện nay
Theo một số nhà nghiên cứu thì thế giới trải qua ba làn sóng toàn cầu hóa:
Làn sóng thứ nhất, diễn ra từ năm 1870 – 1914, được kích thích bằng sự kết hợp giữa chi phí vận tải giảm và việc cắt giảm các hàng rào thuế quan. Thời kỳ 1914 – 1945 là thời kỳ thụt lùi trở về chủ nghĩa quốc gia. Các nước đã gia tăng chủ nghĩa bảo hộ và áp đặt các biện pháp kiểm soát nhằm ngăn chặn xuất khẩu vốn.
Thời kỳ 1945 – 1980 diễn ra làn sóng toàn cầu hóa thứ hai. Trong làn sóng thứ hai này, trên thực tế tồn tại hai hệ thống thương mại: hệ thống Bắc – Nam cũ và hệ thống Bắc – Bắc mới. Hầu hết các nước đang phát triển không tham gia vào sự tăng trưởng của các hoạt động thương mại các sản phẩm chế tạo và dịch vụ trên toàn cầu.
Làn sóng toàn cầu hóa mới (làn sóng thứ ba) được bắt đầu từ thập kỷ 1980 với những đặc trưng: nhiều nước đang phát triển đã thâm nhập vào thị trường toàn cầu, một số nước khác bi cách ly khỏi nền kinh tế thế giới, sự di dân và di chuyển vốn quốc tế trở nên đặc biệt quan trọng (Toàn cầu hóa và tác động của hội nhập đối với Việt Nam – NXB Thế giới).
Toàn cầu hóa thực sự được mọi người biết đến nhiều khi nó bắt đầu xuất hiện từ 1986 – 1994 tại một hội nghị thuế quan mậu dịch họp trong vòng 8 năm ở Uruguay. Kết thúc hội nghị, một tổ chức kinh tế lớn nhất thế giới đã ra đời: WTO. Tổ ...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác

Top