razvanvoicu79
New Member
Download miễn phí Đề tài Đánh giá việc thực hiện Luật bảo vệ môi trường trong ngành thủy sản và đề xuất hướng hoàn thiện trong thời gian tới
MỤC LỤC
Mở đầu
Chương I. Thực trạng phát triển ngành thủy sản và các vấn đề môi trường.
1. Thực trạng phát triển ngành thủy sản
2. Các vấn đề môi trường trong nuôi trồng, khai thác và chế biến thuỷ sản.
3. Mục tiêu phát triển ngành thuỷ sản và dự báo các vấn đề môi trường chính
Chương II. Tổng quan về các quy định pháp luật bảo vệ môi trường đối với ngành thuỷ sản.
1. Các quy định về môi trường trong hệ thống pháp luật liên quan đến nuôi trồng, khai thác và chế biến thuỷ sản.
2. Các quy định của Luật và hệ thống các văn bản dưới Luật BVMT đối với lĩnh vực nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản.
3. Phân tích tính thống nhất, mối quan hệ của các quy định này với các quy định của Luật bảo vệ môi trường và hệ thống các văn bản dưới luật bảo vệ môi trường.
Chương III. Tổ chức thực hiện luật bảo vệ môi trường trong ngành thủy sản.
1. Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm về bảo vệ môi trường trong ngành thủy sản.
2. Thực trạng tuân thủ Luật bảo vệ môi trường trong khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản.
Chương IV. Kiến nghị hướng bổ sung, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường ngành thuỷ sản.
1. Hoàn thiện pháp luật về ngành thuỷ sản theo hướng lồng ghép các quy phạm về bảo vệ môi trường
2. Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường đối với ngành thuỷ sản.
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-01-29-de_tai_danh_gia_viec_thuc_hien_luat_bao_ve_moi_tru.Aq0xU0Dzgk.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-56705/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
lập năm 1957) là cơ sở chế biến thủy sản công nghiệp phục vụ chủ yếu cho thị trường nội địa và một số ít nhà máy ở miền Nam chế biến thủy sản đông lạnh.Sau năm 1975, ở các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang đã được đầu tư, xây dựng thêm một số cơ sở chế biến thủy sản đông lạnh bằng nguồn vốn ngân sách và viện trợ không hoàn lại. Đến năm 1980 đã xây dựng thêm 16 xí nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh, đưa tổng số nhà máy chế biến thủy sản trong cả nước lên 40 với tổng cộng cấp đông là 172T/ngày.
Đến cuối năm 1990, số cơ sở chế biến thủy sản đông lạnh đạt tới con số 102 cơ sở với tổng sản lượng đông lạnh là 60.200T. Ngoài ra, các cơ sở chế biến nước mắm, chế biến hàng khô, bột cá cũng phát triển mạnh. Cả nước có 73 cơ sở chế biến nước mắm quốc doanh và hàng chục cơ sở chế biến tư nhân với công suất khoảng 105 triệu lít/năm. Sản lượng bột cá chế biến hàng năm trên 10.000tấn. Sản lượng thủy sản khô các loại trong năm 1990 khoảng 7.700T.
Từ năm 1991 đến nay, công nghiệp chế biến thủy sản phát triển vượt bậc không chỉ số lượng mà cả về chất lượng. Nhờ sự giúp đỡ, tư vấn của các chuyên gia dự án US/VIE.9./058 và dự án Cải thiện chất lượng và xuất khẩu do DANIDA tài trợ, các xí nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh đã từng bước nâng cấp điều kiện sản xuất và xây dựng chương trình quản lý sản xuất theo HACCP để sản xuất các sản phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh và có chất lượng nhiều xí nghiệp được xây mới, cải tạo. Đến cuối năm 1998 đã có 186 xí nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu với sản lượng sản phẩm thủy sản đông lạnh đạt khoảng 150.000T/năm; sản phẩm khô là 15.000T; nước mắm 170 triệu lít và 9.000T bột cá. Ngoài công ty Cổ phần đồ hộp Hạ Long, chúng ta đã xây thêm 2 cơ sở sản xuất đồ hộp ở Kiên Giang và Thành phố Hồ Chí Minh, đưa khối lượng sản phẩm đồ hộp năm 1998 lên 3.480T.
1.3. Khai thác thủy sản
Trong khoảng 15 năm trở lại đây, sản lượng khai thác thủy sản của Việt Nam đã tăng trưởng liên tục với mức bình quân năm là 6,9%. Lao động trực tiếp khai thác hải sản cũng tăng và đạt gần 627.000 lao động (1997). Tuy nhiên sản lượng cá khai thác ở vùng gần bờ chiếm tỷ lệ chủ yếu (trên 800.000 tấn, khoảng 80% tổng sản lượng cá đã khai thác được). Hiện tại mức khai thác ở vùng này chỉ cho phép đạt 700.000tấn. Trong khi đó tiềm năng nguồn lợi vùng biển xa bờ còn ít được khai thác, năng suất lao động thấp, tăng trưởng về sản lượng khai thác chậm hơn so với tăng số lượng tàu thuyền và công suất máy.
Đội tàu khai thác cá biển có trang bị động lực của Việt Nam hiện nay đã lên đến 71.500 chiếc, với tổng công suất máy 1.850.000CV. Nhưng phần lớn tàu thuyền có công suất máy nhỏ, loại lắp máy trên 90 CV chỉ chiếm 25%. Do đó rất hạn chế đi khai thác cá vùng biển xa bờ.
Phần lớn tàu thuyền khai thác hải sản đều kiêm nghề. Ở phía Bắc có số tàu thuyền khai thác cá đáy chiếm khoảng 35%, cá tầng khoảng 65%. Trong khi đó, số lượng tàu thuyền nói trên ở miền Trung phân biệt là 28% và 72%, còn ở Nam Bộ tỷ lệ đó bằng nhau.
Những năm gần đây, được Chính phủ cho phép, Bộ Thủy sản đang thực hiện chương trình khai thác cá xa bờ, số tàu thuyền có công suất máy lớn đã tăng lên. Trong tổng sản lượng hải sản 1,35 triệu tấn khai thác năm 2001, đã có 456 nghìn tấn được đánh bắt trong vùng biển xa bờ, chiếm 33% tổng số, trong đó sản phẩm làm nguyên liệu xuất khẩu chiếm 30%. Đó chính là kết quả hoạt động của đội tàu cá xa bờ chỉ chiếm khoảng 26% tổng số tàu.
Năm 2001 cũng là lần đầu Việt Nam thử nghiệm thuê tàu trần và chuyên gia của nước ngoài để tham gia khai thác trên biển. Và mặc dù còn rất nhỏ bé, một đội tàu cá đầu tiên của Việt Nam đã lên đường đi khai thác ở vùng biển nước ngoài theo thoả thuận song phương, rút kinh nghiệm để mở hoạt động cho những năm sau.
1.4. Đánh giá chung
Những thành tựu trong hoạt động khai thác và nuôi trồng, cộng với sự chuyển mình mạnh mẽ của các doanh nghiệp chế biến thủy sản đã tạo nên thành tích to lớn trong lĩnh vực xuất khẩu thủy sản, đạt giá trị 1,7 tỷ USD/năm, chiếm gần 40% kim ngạch xuất khẩu của cả khối nông nghiệp và trên 12% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, đứng thứ 3 sau ngành dầu khí và dệt may.
Bên cạnh các kết quả trên, quá trình liên hợp hóa, hợp tác hoá trong lực lượng sản xuất như đòi hỏi của tự thân nó trong sự phát triển cũng đang diễn ra với nhịp độ nhanh chóng, với nhiều cấp độ, qui mô và hình thức. Đến nay, trong khai thác hải sản đã có 450 hợp tác xã (trên 15 nghìn lao động) và 4.300 tổ hợp với khoảng 21 nghìn lao động. Trong nuôi trồng thuỷ sản đã có 34 HTX và trên 3.400 tổ hợp. Các HTX và tổ hợp đã đóng góp vai trò tích cực trong các khâu tổ chức sản xuất, dịch vụ nguyên nhiên liệu, song đó là những nhân tố cần thiết trên con đường phát triển lực lượng sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa.
Một số con số của năm 2001:
- Tổng sản lượng:
2.226.900T
- Sản lượng khai thác:
1.347.800T
- Sản lượng nuôi và khai thác nội địa:
879.100T
- Diện tích mặt nước sử dụng để nuôi thủy sản:
887.500 ha
- Kim ngạch xuất khẩu:
1,7 tỷ USD
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản:
5.013 tỷ đồng
- Nộp ngân sách nhà nước:
1.350 tỷ đồng
2. Các vấn đề môi trường trong nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản.
2.1. Trong nuôi trồng thủy sản
Bên cạnh phát triển mạnh, nuôi trồng thủy sản của Việt Nam bộc lộ nhiều vấn đề bất cập liên quan đến các điều kiện môi trường và kinh tế - xã hội trong phạm vi từng vùng, từng tỉnh, cũng như trong các hệ sinh thái đặc thù. Việc thiếu qui hoạch một số loại hình nuôi trồng thủy sản đã gây hại đến môi trường, đặc biệt ở các vùng ven biển, như chặt cây của rừng ngập mặn và xây dựng đê ở các vùng triều để nuôi tôm quảng canh, thiếu các công trình kỹ thuật cần thiết để làm thoái hoá môi trường, sinh thái vùng ven biển, làm giảm năng suất sinh học của thủy vực, giảm lượng thức ăn tự nhiên, phá hoại các điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự phát triển của ấu thể thuỷ sản khác nhau.
Một số tác động chính đến môi trường có thể thống kê như sau:
- Việc phá các rừng ngập mặn hay đắp bờ khoanh vùng rừng ngập mặn để nuôi tôm quảng canh thô sơ đã gây ra những tác động có hại đến tài nguyên và môi trường.
Hầu hết các đầm nuôi ven biển phía Bắc Việt Nam là rừng ngập mặn có nhiều loài cây, nhiều xác cây, lá và các bộ phận khác của cây. Các đầm nuôi chỉ sử dụng được một thời gian ngắn, sản lượng cá tôm chỉ đạt trung bình 80 - 100kg/ha/năm. Sau vài năm đất trong đầm thoái hoá phải bỏ hoang, gây ra lãng phí rất lớn về tài nguyên thiên nhiên. Khi xây dựng các đầm người ta thường phá thảm thực vật ở trong đầm, có khi phá cả các cây ở ngoài bờ đầm, do đó mất hàng rào bảo vệ chống xói lở đã làm mất nơi ở, nơi cung cấp thức ăn cho nhiều loài hải sản và nhiều sinh vật khác là thức ăn của chúng.
- Quá trình ôxy hoá trầm tích và hình thành môi trường ...