Conall

New Member

Download miễn phí Đề tài Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam từ năm 2000 đến nay





MỤC LỤC
 
Phần mở đầu 1
Phần nội dung 2
Mục I: Vài nét về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 3
1- Sự di chuyển vốn quốc tế 3
2- Đầu tư trực tiếp nước ngoài 3
3- Hoạt động FDI trên thế giới hiện nay 6
Mục II: Thực trạng FDI tại Việt Nam từ năm 2000 đến nay 9
Mục III: Một số giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy hoạt động FDI tại Việt Nam trong thời gian tới 29
A- Chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 29
B- Những giải pháp cụ thể nhằm thu hút vốn FDI tại Việt Nam trong những năm tới 33
Phần kết luận 46
 



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

% vốn nước ngoài đã nhanh chóng tổ chức lại bộ máy quản lý và tổ chức lại sản xuất kinh doanh, một số doanh nghiệp giảm dần tình trạng lỗ vốn và bắt đầu làm ăn có lãi. Các đối tác Việt Nam bảo toàn được vốn, rút vốn ra để đầu tư các dự án khác. Các nhà đầu tư và dư luận hoan ngênh việc Việt Nam cho phép các dự án FDI chuyển hình thức đầu tư như vừa qua và coi đó là tín hiệu tốt trng việc cải thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam.
Thứ ba: Các rủi ro ở mức độ cao làm cho các dự án bị giải thể trước thời hạn.
Tính đến 31/12/2000 đã có 642 dự án bị giải thể trước thời hạn, với vốn đăng ký bị giải thể là 8.111 triệu USD (chiếm 18% vốn đầu tư đăng ký), trong đó có 2.131 triệu USD đã được thực hiện (chiếm 26% vốn bị giải thể). Tình hình giải thể các dự án FDI được thể hiện:
So với các lĩnh vực khác, ngành công nghiệp và xây dựng có nhiều dự án giải thể trước thời hạn nhất, với 323 dự án (chiếm 44% số dự án bị giải thể), với 2.886 triệu USD vốn đầu tư (chiếm 36% tổng vốn đầu tư).
Trong số này, tỷ trọng lớn nhất về vốn đầu tư giải thể phải kể đến các dự án thăm dò và khai thác dầu khí (chiếm 47%). Bên cạnh đó, còn có một số lĩnh vực có số dự án bị giải thể trước thời hạn lớn như công nghiệp nặng, công nghiệp hoá chất, công nghiệp dệt may và dược phẩm.
Trong ngành xây dựng có 55 dự án bị giải thể trước thời hạn (chiếm 8,56% số dự án được cấp phép). Các dự án trong ngành xây dựng triển khai chậm, đặc biệt là các dự án xi măng và sản xuất sắt thép.
Trong nông - lâm, ngư nghiệp, tổng số dự án được cấp phép đầu tư là 347 dự án, trong đó số còn hiệu lực đạt 197 dự án, số dự án giải thể là 150 dự án (chiếm 43,2%) với tổng vốn đầu tư đạt 797,384 triệu USD (chiếm 9,8%). Nhìn chung, các dự án trong lĩnh vực này triển khai còn chậm, tỷ lệ các dự án giải thể trước thời gian cao hơn các nghành khác (trên 30% so với mức trung bình chung là 20%).
Lĩnh vực dịch vụ đã thu hút 636 dự án, trong đó có 169 dự án bị giải thể trước thời gian (chiếm 26,5%), tổng vốn đầu tư là 4418 triệu USD (chiếm 54,6%). Nhìn chung, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ đã góp phần khai thác được những thế mạnh của lĩnh vực này nhưng lại chưa hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài bởi lẽ mức độ rủi ro trong ngành này cũng khá cao.
Theo hình thức đầu tư: tỷ lệ các dự án FDI bị giải thể là các doanh nghiệp liên doanh (chiếm 69% về dự án và 68% về vốn đầu tư). Theo tính toán sơ bộ, tỷ lệ vốn thực hiện so với vốn đăng ký của dự án liên doanh chỉ đạt 11,6%, trong khi có dự án 100% vốn nước ngoài đạt 26,7%. Tỷ lệ giải thể các liên doanh lên tới 73% số dự án và 69% tổng vốn đăng ký trong khi các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chỉ có tỷ lệ giải thể 17% dự án và 8% vốn đăng ký.
Phần lớn các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam có đối tác là Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản chiếm 65% số dự án và 57% vốn đầu tư. Trong khối ASEAN, chỉ có Singapore, Malaysia và Thái Lan là có dự án đầu tư ở Việt Nam với 575 dự án (chiếm 21%) và vốn đăng ký đạt 8.868 tỷ USD (chiếm 24,4%). Phần lớn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian gần đây tại Việt Nam là từ các nước trong khu vực (88% dự án và 81% vốn đăng ký).
Trên đây là thực trạng chung về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, qua đó, có thể thấy được những khó khăn và thách thức như sau:
Thứ nhất: Một số hạn chế:
Nhiều dự án đầu tư trực tiếp vào Việt Nam hoạt động không có hiệu quả. Trong 9 tháng đầu năm 2001, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải quyết định giải thể 40 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký là 765 triệu USD. Dự báo đến hết năm 2002, vẫn còn một số dự án phải giải thể trước thời hạn, tổng số dự án giải thể trong năm nay có thể có số vốn lên đến 1 tỷ USD.
Các dự án này tập trung vào khu vực sản xuất vật liệu xây dựng và dịch vụ khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê.
Trong số các dự án bị giải thể sớm so với thời hạn nói trên có không ít dự án mới được cấp phép vào năm 1999 và năm 2000. Nhiều chủ dự án không có đủ vốn như đăng ký. Một số chủ dự án đã kéo dài thời hạn đầu tư vốn và giải ngân do chính sách của ta ưu đãi và hấp dẫn, họ đã đăng ký đầu tư trước sau đó mới thu xếp vốn.
Theo một số nhà kinh tế, thì có những chủ đầu tư đăng ký, xin đầu tư sau đó bán lại dự án để ăn lãi chênh lệch. Một số dự án được cấp đất sau nhiều năm nhưng vấn đề đất hoang hoá mà ta không kịp thời xử lý theo pháp luật Việt Nam như Trung tâm thương mại Hà nội, khách sạn Hà nội nằm bên hồ Hoàn Kiếm.
Hầu hết các dự án có vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam chưa thể hiện việc các nhà đầu tư mang công nghệ mới, hiện đại của thế giới vào Việt Nam. Ngoài việc họ đưa vào nước ta công nghệ điện tử có tính thời đại nhưng hàng hoá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài này sản xuất ra vẫn kém tính cạnh tranh so với Công ty mẹ của họ. Ngoài ra, những dự án chúng ta rất mong mỏi như cơ khí chế tạo, công nghiệp vật liệu, công nghệ kỹ thuật cao thì đến nay vẫn chưa vào Việt Nam. Ngay một số dự án ta vừa ưu đãi trên chính sách, vừa ưu đãi thực tế như công nghiệp ô tô, công nghiệp xe máy ... cũng chỉ ở trình độ lắp ráp. Hầu hết các phụ tùng, phụ kiện đòi hỏi sản xuất bằng công nghệ cao thì đến được chế tạo ở nước khác rồi đưa vào Việt Nam để lắp ráp. Lợi dụng sự ưu đãi, khuyến khích đầu tư của nước ta, nhiều nhà đầu tư đưa vào Việt Nam các công nghệ thiết bị không đồng bộ. Sự không đồng bộ thể hiện ở nhiều mặt.
Lĩnh vực mà nhiều người nhìn thấy rõ nhất đó là công nghệ xử lý chất thải công nghiệp. Nhiều nhà đầu tư chỉ tập trung vốn cho sản xuất, trong khi lại đầu tư nhỏ giọt cho bảo vệ môi trường. Một thực tế đã xảy ra là khu vực tập trung nhiều nhà đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài thì khu vực đó môi trường suy thoái, nhất là môi trường nước. Sông Đồng Nai đoạn chảy qua Biên Hoà, Bình Dương và Sông Thị Vải ở Bà Rịa - Vũng Tàu là những minh chứng. Để khôi phục lại môi trường chắc chắn chúng ta phải đầu tư một khoản tiền lớn chưa tính trước được và khi có tiền nhưng chưa chắc khôi phục lại được môi trường.
Thêm vào đó, nhiều dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh đối với các doanh nghiệp Việt Nam theo cách giảm tỉ lệ hàng xuất khẩu để tranh giành thị trường nội địa Việt Nam. Mặt khác, một số nhà đầu tư mặc dù nhận được sự ưu đãi và thân thiện của Việt Nam vẫn dùng các thủ pháp chia sẻ rủi ro với bên Việt Nam trong liên doanh vào thời kỳ đầu, khi giành được thị trường và ổn định sản xuất thì biến doanh nghiệp liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bán ra thị trường các loại hàng hoá rất đắt so với nước sở tại và so với các nước lân cận trong khi chính chúng ta vẫn tạo ra các hàng rào bảo hộ cho các loại hàng hoá ấy. Thể ...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác
Tạo bởi Tiêu đề Blog Lượt trả lời Ngày
D Hoạt động xúc tiến đầu tư nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thành phố Hải Phòng Luận văn Kinh tế 0
D Tác động của toàn cầu hóa kinh tế đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt nam Luận văn Kinh tế 0
D Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bắc Ninh Luận văn Kinh tế 0
D Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của hàn quốc vào việt nam Luận văn Kinh tế 0
D Đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc vào Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ 21 Luận văn Kinh tế 0
D Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế trọng điểm miền trung Luận văn Kinh tế 0
D Cơ sở lý luận về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Luận văn Kinh tế 0
B Tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam Luận văn Kinh tế 0
H Một số giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ trong thời gian tới Luận văn Kinh tế 2
L đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Châu Âu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Luận văn Kinh tế 0

Các chủ đề có liên quan khác

Top