lethuyhanh_1973

New Member

Download Đề tài Chất lượng dân số Việt Nam miễn phí





MỤC LỤC
Trang
A/ Phần mở đầu 1
B/ Nội dung chính 4
I/Chất lượng dân số 4
1.Quan niệm về chất lượng dân số 4
2.Chỉ tiêu phản ánh chất lượng dân số 5
3.Thực trạng và những thành tựu đạt được 8
a/ Tình hình thực hiện nâng chỉ số phát triển con người 8
b/ Chất lượng nguồn nhân lực 10
c/ Chất lượng cuộc sống 11
II/ Nâng cao chất lượng dân số 12
1.Mục đích 12
2.Các biện pháp nâng cao chất lượng dân số 14
2.1. Trách nhiệm nâng cao chất lượng dân số 14
2.2. Các biện pháp 16
a/ Biện pháp về sức khoẻ sinh sản 17
b/ Chăm sóc sức khoẻ nhân dân 24
c/ Nâng cao chất lượng dân trí và năng lực xã hội 26
C/ Kết luận
 
 
 
 
 



Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

i nữ) là 31,9%; 1,5% dân số bị thiểu năng về thể lực và trí lực; tần suất dị tật bẩm sinh ở trẻ sinh ra sống là 3%. Tỉ lệ trẻ sơ sinh nặng dưới 2500g chiếm 8% năm1998. Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đã giảm, song theo phân loại của tổ chức Y tê thế giới(WHO) tỉ lệ này vẫn còn ở mức cao, chiếm 36.7% năm 1999; 33.8% năm 2000; 30,1% năm 2002 và 28% năm 2003.Chỉ có 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh có tỉ lệ suy dinh dưỡng ở mức trung bình(10%-19%) có 24 tỉnh có tỉ lệ dinh dưỡng ở loại cao (20%-30%) và có tới 35 tỉnh còn lại có tỉ lệ suy dinh dưỡng ở loại rất cao(trên 30%). Trong khi việc phòng chống suy dinh dưỡng chưa xong thì đã xuất hiện tình trạng bệnh tật do thừa dinh dưỡng gây ra.
Tính đến thời điểm 1/4/1999 cả nước vẫn còn 6,8 triệu người từ 10 tuổi trở lên chưa bao giờ đến trường, trong đó 5,3 triệu người hoàn toàn không biết chữ. Tỉ lệ số người đã qua đào tạo nghề nghiệp và chuyên môn kĩ thuật chiếm 7,6% dân số từ 13 tuổi trở lên, trong đó 2,3% là công nhân kĩ thuật và nhân viên nghiệp vụ có bằng cấp, 2,8% có trình độ trung học chuyên nghiệp, 0,7% cao đẳng, 1,7% đại học và 0,1% có trình độ trên đại học. Cơ cấu đào tạo bất hợp lí, quan hệ tỉ lệ đào tạo giữa 3 loại trình độ chuyên môn kĩ thuật theo tiêu chuẩn quốc tế là: đại học và trên đại học 1; trung học chuyên nghiệp 4; công nhân kĩ thuật 10 (1-4-10), thì ở nước ta tại thời điểm 1/4/1999 là 1- 1,13- 0,92.
Để tránh nguy cơ tụt hậu, cùng với việc giải quyết vấn đề quy mô dân số đòi hỏi chúng ta phải xây dựng và thực thi một chiến lược dài hạn nhằm thực hiện đồng bộ, từng bước, có trọng điểm việc điều hoà quan hệ giữa số lượng và chất lượng dân số, giữa phát triển dân số và nguồn lực để nâng cao chất lượng dân số Việt Nam cả về thể lực và trí lực.
b.Chất lượng nguồn nhân lực.
Trước Cách mạng Tháng Tám (năm 1945) có 95% dân số không biết chữ. Sau Cách mạng, Đảng và nhà nước ta tập trung mọi nguồn lực để phát triển giáo dục nâng cao dân trí, hiện nay 90% dân số biết chữ, phần đông lực lượng lao động được giáo dục phổ thông. Tuy nhiên chúng ta đang đứng trước những thử thách mới, trình độ tay nghề, kỹ thuật của lao động Việt Nam còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước, so với trình độ phát triển của các nước tiên tiến.
Hiện nay Việt Nam thuộc nhóm các nước có cơ cấu dân số trẻ. Đây là một thế mạnh trong việc bổ sung nguồn nhân lực mới cho phát triển. Song sự phát triển có bền vững hay không còn tuỳ từng trường hợp vào chất lượng lao động. Lực lượng lao động trẻ này phải khoẻ mạnh về thể chất, được giáo dục và đào tạo cơ bản, có hệ thống ngay từ khi cắp sách tới trường cho tới khi thành người lao động có học vấn cao, kĩ năng chuyên môn phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội. Nếu nhìn vào hệ thống trường sở, cơ sở vật chất cho giáo dục, đội ngũ cán bộ khoa học , cán bộ giảng dạy và nghiên cứu thì chúng ta đã đạt bước tiến lớn trong lịch sử giáo dục Việt Nam. Chưa bao giờ nước ta có một hệ thống trường sở với những phương tiện giáo dục và đào tạo lớn và hiện đại như ngày nay. Nhưng nếu nhìn vào nhu cầu của sự phát triển kinh tế- xã hội đối với chất lượng nguồn nhân lực thì hệ thống giáo dục đào tạo thể hiện những hạn chế và còn nhiều điều bất cập. Tỉ lệ trẻ em bỏ học còn nhiều, kiến thức và kĩ năng chuyên môn của người lao động thấp hơn các nước tiên tiến khác.
c.Chất lượng cuộc sống.
Khi nói đến chất lượng cuộc sống không chỉ nhấn mạnh đến đời sống vật chất, tinh thần, thể lực, trí tuệ mà còn nói đến môi trường, khả năng và điều kiện xã hội cho các thành viên xã hội có những cơ hội phát triển đạt được những vị thế xã hội mới. Mức sống vật chất, tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện, hệ thống y tế dược xây dựng đến tận làng bản, hệ thống chăm sóc sức khoẻ được xây dựng và kiện toàn, loại trừ một số căn bệnh xã hội ra khỏi đời sống xã hội, tuổi thọ trung bình được nâng cao. Hệ thống giáo dục được xây dựng và phát triển, hầu hết các xã đã có trường tiểu học và phổ thông cơ sở, huyện có ít nhất một trường phổ thông trung học.
Về chất lượng dân số, một vấn đề được xã hội rất quan tâm là trong những năm gần đây dưới tác động của mặt trái kinh tế thị trường, sự phân hoá xã hội, phân hoá giàu cùng kiệt có chiều hướng gia tăng. cùng kiệt đói là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống hàng ngày. Những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống con người như ăn, ở, mặc, các nhu cầu về giáo dục, chăm sóc sức khoẻ…không được đảm bảo. Biểu hiện của tình trạng này là suy dinh dưỡng, thiếu thốn những điều kiện sinh hoạt hàng ngày, không có khả năng đầu tư cho con ăn học. Hiện nay nhóm cùng kiệt đói giảm xuống cả về số lượng tuyệt đối và cả về tỉ trọng trong toàn bộ dân cư. cùng kiệt còn được xem xét như là một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng xã hội tại một địa phương và trong thời điểm nhất định. Xét theo ý nghĩa đó hiện nay, khoảng 50% dân số thuộc diện nghèo, trong đó có hơn 1.700 xã trọng điểm cần có sực trợ giúp tích cực của xã hội.
II/ Nâng cao chất lượng dân số
1.Mục đích nâng cao chất lượng dân số.
Trong nhiều thế kỉ, loài người luôn bị ám ảnh bởi mục tiêu thoát khỏi đói nghèo, ngày càng có được một cuộc sống đầy đủ, sung túc hơn cho tất cả mọi người. Do đó, việc tập trung mở rộng năng lực sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dần dần trở thành mục tiêu trọng yếu của mỗi quốc gia. Chính vì vậy, con người với tư cách là mục tiêu đích thực của sự phát triển đã nhiều khi bị xem nhẹ.
Cách tiếp cận có tính hệ thống, mang tính nhân văn coi con người là trung tâm, là mục đích tối thượng của sự phát triển và coi phát triển là sự mở rộng phạm vi lựa chọn của con người để đạt đến một cuộc sống trường thọ, khoẻ mạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với con người. Quan điểm này bao hàm hai khía cạnh chính là mở rộng các cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực lựa chọn của con người nhằm hưởng thụ một cuộc sống hạnh phúc, bền vững.
Mở rộng cơ hội lựa chọn bao gồm: tăng thu nhập, được tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục tốt hơn, có chỗ ở tốt hơn, việc làm có ý nghĩa hơn, tham gia đầy đủ tích cực hơn vào các hoạt động xã hội cộng đồng. Phát triển vì con người phải nhấn mạnh tới việc mở rộng không gian lựa chọn cho con người để mỗi người có thể đạt được cuộc sống có ý nghĩa nhất. Việc mở rộng các quyền lựa chọn của các cá nhân trong mọi lĩnh vực là điều kiện thiết yếu và quan trọng nhất của quá trình phát triển.
Tăng cường năng lực lựa chọn là điều kiện cần thiết để biến các cơ hội sẵn có thành hiện thực. Tăng cường năng lực con người trước hết là trau dồi kĩ năng, kiến thức, kinh nghiệm của họ. Tuy nhiên kĩ năng, kiến thức có thể bị mai một, xói mòn nếu chúng không được ...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác

Top