bui_bay012

New Member

Download Đề tài Văn hóa tổ chức và tác động của văn hóa tổ chức tới động lực của người lao động miễn phí





Tri thức là kho tàng quý báu của nhân loại nói chung và mỗi dân tộc nói riêng. Tri thức không của riêng ai và không có một vĩ nhân nào có đầy đủ tri thức một cách toàn diện. Sử dụng tri thức đó đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cá nhân, các cộng đồng người để khai thác hết kho tàng tri thức đó phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Ở Việt Nam có câu: tam ngu thánh hiền hay nói một cách dân dã là ba ông thợ da bằng một Gia Cắt Lượng là một tổng kết đúc rút từ thực tiễn. Nó thể hiện rằng trí tuệ của mỗi người là có hạn, còn trí tuệ của nhân loại là vô hạn, trí tuệ của tập thể, của cộng đồng có thể bằng trí tuệ của các siêu nhân và thường thì bao giờ cũng hoàn thiện, đầy đủ hơn trí tuệ cá nhân. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trí tuệ mỗi người sẽ bổ sung cho nhau tạo ra trí tuệ tập thể ở một trình độ cao và hoàn thiện hơn. Sự kết hợp đó là nét đẹp văn hoá trong sản xuất kinh doanh và chính nó tạo ra sức mạnh tập thể, của cộng đồng.



Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

kiểm soát để định hướng và hình thành nên thái độ và hành vi của người lao động. Chức năng cuối cùng này có ý nghĩa đặc biệt đối với chúng ta.
Văn hoá có tác dụng nâng cao sự cam kết tổ chức và làm tăng tính kiên định trong hành vi của người lao động. Những điều này rõ ràng đem đến lợi ích đích thực cho tổ chức. Theo quan điểm của người lao động, văn hoá có giá trị vì nó làm giảm đáng kể sự mơ hồ. Nó chỉ cho nhân viên mọi thứ được tiến hành như thế nào và cái gì là quan trọng.
Ngược lại,văn hoá cũng có thể là một gánh nặng khi những giá trị chung của tổ chức không phù hợp. Tình hình này hay xảy ra nhất khi môi trường của tổ chức rất năng động. Khi môi trường tổ đang trải qua một sự thay đổi nhanh chóng, văn hoá vốn có của tổ chức có thể hầu như không còn phù hợp nữa. Tính kiên định trong hành vi là một tài sản đối với tổ chức trong một môi trường ổn định. Tuy nhiên nó cũng có thể là một gánh nặng cho tổ chức và cản trở khả năng thích ứng của tổ chức với những thay đổi trong môi trường. Hơn nữa, văn hoá cũng có thể gây cản trở đối với sự thay đổi, sự đa dạng của nguồn lực con người trong tổ chức. Bản thân mỗi người lao động có một hệ thống giá trị và niềm tin riêng của họ. Khi làm việc trong môi trương có nền văn hoá mạnh, họ cần tuân thủ theo những quy phạm và hệ thống giá trị chung của tổ chức. Như vậy những mặt mạnh hay những ưu thế của từng người lao động sẽ phần nào bị hạn chế.
II. Tạo động lực và vai trò của tạo động lực
Một tổ chức chỉ có thể đạt chỉ có thể đạt được năng suất cao khi có những nhân viên làm việc tích cực và sáng tạo. Điều đó phụ thuộc vào cách thức mà những người quản lý sử dụng để tạo động lực cho nhân viên.
Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người lỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép, tạo ra năng suất hiệu quả cao.Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng lỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động. Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn tới năng suất và hiệu quả công việc vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của người lao động, phương tiện và các nguồn lực để thực hiên công việc. Người lao động nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc. Tuy nhiên, người lao động nếu mất động lực hay suy giảm động lực sẽ không mất khả năng thực hiện công việc và có xu hướng ra khỏi tổ chức.
Các nhân tố ảnh hưởng tới động lực làm việc của người lao động. Các nhân tố đó có thể phân thành 3 nhóm như sau:
+ Nhóm nhân tố thuộc về người lao động, bao gồm:
-Thái độ, quan điểm của người lao động trong công việc và đối với tổ chức
-Nhận thức của người lao động về giá trị và nhu cầu cá nhân
- Năng lực và nhận thức về năng lực của bản thân người lao động
+Nhóm nhân tố thuộc về công việc, bao gồm:
- Đòi hỏi về kỹ năng nghề nghiệp
- Mức độ chuyên môn hoá của công việc
- Mức độ phức của công việc
- Sự mạo hiểm và mức độ rủi ro của công việc
- Mức độ hao phí về trí lực
+ Nhóm nhân tố thuộc về tổ chức, bao gồm:
- Mục tiêu chiến lược của tổ chức
- Văn hoá tổ chức
- Lãnh đạo ( quan điểm, phong cách, phương pháp)
- Quan hệ nhóm
- Các chính sách liên quan tới quyền và nghĩa vụ của người lao động, nhất là các chính sách về quản trị nguồn nhân lực.
Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc. Tạo động lực cho người lao động là trách nhiệm và mục tiêu của quản lý. Một khi người lao động có động lực làm việc thì sẽ tạo ra khả năng tiềm năng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác.
CHƯƠNG 2: QUAN HỆ GIỮA VĂN HOÁ TỔ CHỨC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
I. Quan hệ giữa văn hóa tổ chức và tác động của nó tới động lực làm việc của người lao động.
Trước hết ta phải khẳng định rằng, văn hoá tổ chức là một trong những nhân tố, một công cụ tác động tới động lực làm việc của người lao động. Đưa các yếu tố văn hoá vào kinh doanh là tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Quá trình sản xuất kinh doanh đòi các yếu tố của nó phải có một số lượng và chất lượng nhất định, cũng như sự kết hợp hài hoà các yếu tố đó. Một trong những yếu tố cơ bản đó là con người, luôn bao hàm hai mặt: mặt động vật và mặt xã hội. Muốn tạo ra chất lượng cuả yếu tố con người thì phải đảm bảo được sự phát triển toàn diện của nó, trong đó mặt xã hội có đạt được hay không chủ yếu phụ thuộc vào việc đưa các yếu tố văn hoá vào mọi hoạt động của của con người, bao hàm hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động cơ bản nhất của họ. Trong mối quan hệ xã hội của con người như vậy, các yếu tố văn hoá đã trở thành động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển thông qua tác động tạo sự hoàn thiện và đảm bảo chất lượng của yếu tố sản xuất chủ yếu này. Sau đây là một số nét văn hoá tổ chức theo em là cơ bản tác động tới động lực làm việc của người lao động:
1.Văn hoá tổ chức là những hoạt động văn hoá tinh thần.
Con người là chủ thể các hoạt động sản xuất, kinh doanh, ngoài nhu cầu về vật chất còn có những nhu cầu về đời sống tinh thần. Khi đời sống vật chất càng cao thì đòi hỏi đời sống tinh thần cũng phải nâng cao tương ứng. Mục tiêu của nền kinh tế XHCN là nhằm đáp ứng ngày càng cao đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội. Mục tiêu này được nói thành một câu đơn giản: “con người không chỉ cần có bánh mỳ mà cần có cả hoa hồng”. Như vậy bản thân nhận thức của con người đã thấy vai trò của đời sống văn hoá, tinh thần trong cuộc sống hết sức cần thiết.
Trước đây người ta thường coi các hoạt động văn hoá là hoạt động đứng bên ngoài kinh tế, do kinh tế trợ cấp. Chỉ khi nào kinh tế phát triển thì mới có điều kiện cho các hoạt động văn hoá tinh thần. Nhưng thực tế không phải như vậy, qua các di chỉ văn hoá của xã hội loài người thời cổ đã cho thấy có các hoạt động văn hoá tức là các hoạt động này xuất hiện ngay khi đời sống vật chất mới ở mức độ thấp nhất.
Xem xét quan hệ giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần ta thấy chúng ta là hai mặt của đời sống con người hay là hai mặt của một vấn đề. Theo quan niệm biện chứng, tất yếu hai mặt đó có quan hệ mật thiết với nhau, quy định và tác động lẫn nhau, không thể thiếu cái nào. Bất kể một sự thiên lệch nào, nếu chỉ coi trọng một mặt của đời sống mặt kia bi coi nhẹ thì sự phát triển của con người sẽ mất đi sự toàn diện, bị lệch lạc và lúc đó con người khó mà thể hiện đúng tư xã hội của mình là “tổng hoà các mối quan hệ xã hội”. Các hoạt động văn hoá tinh thần làm cho con người cảm giác có ý ...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác

Top