funny_boo_kute

New Member

Download Phạm vi của bồi thường nhà nước miễn phí





Bồi thường nhà nước được coi là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Cái cây ngoài đường đổ vào người dân, gây thương tích cho người dân, Nhà nước phải bồi thường - bồi thường ngoài hợp đồng, vì trường hợp này không xuất phát từ hợp đồng nào cả. Nếu có hợp đồng, thì chỉ là hợp đồng bảo hiểm giữa người bị nạn với công ty bảo hiểm. Nhưng khi Nhà nước bồi thường cho người bị nạn, đó là bồi thường ngoài hợp đồng.
Tuy nhiên, nếu nhìn rộng ra thì cũng có thể nói, đây không phải là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bởi lẽ, trong một nhà nước văn minh, hiện đại, giữa công dân và Nhà nước luôn tồn tại hợp đồng xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên: Nhà nước và công dân. Đó chính là khế ước xã hội theo cách gọi của J.J. Rút -xô. Theo J.J. Rút -xô, giữa Nhà nước và xã hội tồn tại một loại hợp đồng: hợp đồng xã hội. Có thể coi Hiến pháp là khế ước, là hợp đồng xã hội. Các bên đã thỏa thuận ý chí và đi tới ký kết một hợp đồng, theo đó, nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm quyền và lợi ích của người dân và người dân phải có nghĩa vụ đối với Nhà nước (nghĩa vụ tuân thủ trật tự xã hội, đóng thuế, tuân thủ pháp luật mà pháp luật về nghĩa rộng cũng chính là thể hiện ý chí của người dân thông qua các thay mặt mà họ cử ra). Người dân đóng thuế để duy trì bộ máy công quyền nhưng khi bộ máy công quyền gây thiệt hại cho người dân thì lẽ đương nhiên, theo hợp đồng xã hội, khế ước xã hội, Nhà nước phải bồi thường. Suy cho cùng, tiền bồi thường đó cũng chính là tiền của người được bồi thường đã đóng góp.
 



Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

Phạm vi của bồi thường nhà nước
Một nguyên tắc chung được thừa nhận từ xa xưa là người gây thiệt hại phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Hành vi gây thiệt hại có thể xuất phát từ hợp đồng, từ cam kết về nghĩa vụ mà không thực hiện, cũng có thể không có cam kết, ngoài phạm vi hợp đồng - bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong pháp luật dân sự thì điều đó đã rõ. Tuy nhiên, một vấn đề được đặt ra là: nguyên tắc này được áp dụng như thế nào cho trường hợp thiệt hại gây ra do hoạt động của các cơ quan nhà nước, với tính cách là cơ quan công quyền bồi thường cho công dân? Nói cách khác, đó là vấn đề bồi thường nhà nước.
Một nguyên tắc chung được thừa nhận từ xa xưa là người gây thiệt hại phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Hành vi gây thiệt hại có thể xuất phát từ hợp đồng, từ cam kết về nghĩa vụ mà không thực hiện, cũng có thể không có cam kết, ngoài phạm vi hợp đồng - bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong pháp luật dân sự thì điều đó đã rõ. Tuy nhiên, một vấn đề được đặt ra là: nguyên tắc này được áp dụng như thế nào cho trường hợp thiệt hại gây ra do hoạt động của các cơ quan nhà nước, với tính cách là cơ quan công quyền bồi thường cho công dân? Nói cách khác, đó là vấn đề bồi thường nhà nước.
1. Cơ sở lý luận của bồi thường nhà nước
Trong Nhà nước pháp quyền, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân là mối quan hệ qua lại. Công dân có nghĩa vụ trước Nhà nước và Nhà nước có nghĩa vụ trước công dân. Nhà nước phải bảo đảm các quyền của công dân, tạo điều kiện để công dân thực hiện các quyền và tự do của mình; còn công dân phải thực hiện các nghĩa vụ mà Nhà nước đề ra đối với mình. Điều 51 của Hiến pháp năm 1992 của nước ta quy định: "Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.
Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội.
Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định".
Công dân có nghĩa vụ: bảo vệ Tổ quốc; tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi ích công cộng; tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn bí mật quốc gia, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng; đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật. Khi công dân không thực hiện nghĩa vụ trước Nhà nước, vi phạm pháp luật, đương nhiên sẽ có các chế tài tương ứng với mức độ của hành vi vi phạm được áp dụng. Khi công dân, bằng hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho Nhà nước thì ngoài trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hình sự tương ứng, công dân còn có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Việc bồi thường thiệt hại vật chất của công dân đối với Nhà nước nhiều khi chỉ có thể thực hiện với mức độ nhỏ, không tương xứng với mức độ thiệt hại vì khả năng bồi thường của công dân là có hạn. Vấn đề bồi thường này được quy định rất rõ trong pháp luật và việc thực thi cũng không mấy khó khăn vì Nhà nước có bộ máy cưỡng chế để thực hiện quyền được bồi thường thiệt hại của mình. Và ngược lại, trong mối quan hệ với Nhà nước, công dân cũng có quyền đòi Nhà nước phải bồi thường thiệt hại do Nhà nước, các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước gây ra cho mình.
Theo Điều 74 của Hiến pháp năm 1992: "Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hay bất cứ cá nhân nào.
Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.
Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự …".
Như vậy, Hiến pháp nước ta khẳng định người dân bị thiệt hại do hành vi của Nhà nước, cơ quan nhà nước và công chức nhà nước có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự.
Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 cũng quy định tại Điều 619 về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra. Theo đó, cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ. Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm yêu cầu cán bộ, công chức phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu cán bộ, công chức có lỗi trong khi thi hành công vụ. Còn về bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra thì, “cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ” (Điều 620 BLDS năm 2005).
Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ quy định giới hạn việc bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực hành chính và tố tụng.
Về mặt lý luận mà nói, việc bồi thường phải được quy định trong tất cả hoạt động của cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp). Nhưng trên thực tế, kể từ khi Nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội số 388/2003/NQ-UBTVQH ngày 17/3/2003 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có hiệu lực, thì trách nhiệm bồi thường nhà nước mới bắt đầu thực hiện. Tuy nhiên, thực tế cũng mới chỉ áp dụng với các trường hợp bị oan trong tố tụng hình sự, chưa có sự điều chỉnh với trường hợp sai; hơn nữa, cũng chưa có sự bồi thường thiệt hại trong các trường hợp khác. Điều đó là không hợp lý vì mọi hành vi, quyết định của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ dù đúng hay sai cũng được coi là hành vi, quyết định của cơ quan nhà nước. Nếu hành vi đó trái luật, gây thiệt hại, Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường. Nhưng nếu việc làm của cán bộ, công chức xảy ra không gắn với việc thi hành công vụ thì họ phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi của mình. Trường hợp này, Nhà nước không phải bồi thường.
Bồi thường nhà nước được coi là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Cái cây ngoài đường đổ vào người dân, gây thương tích cho người dân, Nhà nước phải bồi thường - bồi thường ngoài hợp đồng, vì trường hợp này không xuất phát từ hợp đồng nào cả. Nếu có hợp đồng, thì chỉ là hợp đồng bảo hiểm giữa người bị nạn với công ty bảo hiểm. Nhưng khi Nhà nước bồi thường cho người bị nạn, đó là bồi thường ngoài hợp đồng.
Tuy nhiên, nếu nhìn rộng ra thì cũng có thể nói, đây không phải là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bởi lẽ, trong một nhà nước văn...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác
Tạo bởi Tiêu đề Blog Lượt trả lời Ngày
T [Free] Dùng cặp phạm trù bản chất - hiện tượng phân tích lối sống của SVVN hiện nay. Tài liệu chưa phân loại 0
E [Free] Tiểu luận Phân tích các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của vi phạm hành chính Tài liệu chưa phân loại 0
F [Free] Luận bàn về tiêu chí thẩm định tính khả thi của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Tài liệu chưa phân loại 0
O [Free] Một số ý kiến về phạt vi phạm do vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam Tài liệu chưa phân loại 0
L [Free] Tính hợp lý của văn bản qui phạm pháp luật qua bộ luật Napoleon 1804 Tài liệu chưa phân loại 0
Q [Free] Hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước Tài liệu chưa phân loại 0
P [Free] Chuyên đề Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An Tài liệu chưa phân loại 0
B [Free] Cải cách cấu trúc của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Tài liệu chưa phân loại 0
D [Free] Tiểu luận Cơ sở để đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật Tài liệu chưa phân loại 0
S [Free] Tiểu luận Tính hợp lý của các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính Tài liệu chưa phân loại 0

Các chủ đề có liên quan khác

Top