Download Tiểu luận Những vấn đề cơ bản về pháp luật thừa kế của Việt nam miễn phí
Đối với di chúc miệng là di chúc được lập trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe doạ do bệnh tật hay các nguyên nhân khác (bị tai nạn, thương tật.) mà không thể lập di chúc bằng văn bản. Tuy nhiên, di chúc miệng chỉ hợp pháp khi người để di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của họ trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người này phải ghi chép lại và cùng ký tên hay điểm chỉ. Sau 3 tháng kể từ thời điểm để di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng bị hủy bỏ.
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho
Tóm tắt nội dung:
pháp luật. Trong các loại tài sản để lại thừa kế thì bất động sản được quan tâm đến nhiều nhất mà đặc biệt là nhà ở và quyền sử dụng đất.Quyền thừa kế gắn liền với quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tuy nhiên quyền sử dụng đất đai thuộc sở hữu toàn dân cũng được thừa kế theo quy định của pháp luật.
Di sản thừa kế phải là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người để thừa kế và tài sản này bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền. Tài sản đó là tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Tài sản riêng mà người để thừa kế là chủ sở hữu hợp pháp gồm có: tư liệu sinh hoạt như bàn ghế, giường tủ, chăn màn, tivi, tủ lạnh, bếp ga...; tư liệu sản xuất như nhà xưởng, máy móc để sản xuất, công cụ sản xuất...; vốn sản xuất hay kinh doanh hợp pháp; nhà ở; trái phiếu; tiền tiết kiệm gửi ngân hàng hay quỹ tín dụng; các thu nhập hợp pháp khác như tiền thưởng, tiền trúng xổ số, tiền nhuận bút...
Phần tài sản của người để lại thừa kế trong khối tài sản chung với người khác là phần tài sản thuộc sở hữu chung của người chết với những chủ thể khác như: phần vốn góp trong công ty cổ phần, phần nhà đất cùng chung mua với người khác...
Quyền về tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự cũng được coi là tài sản. Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong quan hệ dân sự như: quyền đòi nợ, đòi tài sản cho thuê cho mượn, đòi bồi thường thiệt hại...
Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế nhưng vì đây là một loại tài sản đặc biệt nên theo quy định của pháp luật đất đai thì người sử dụng đất chỉ được thực hiện quyền thừa kế khi có các điều kiện như: có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất không có tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án, trong thời hạn sử dụng đất. Theo Bộ luật dân sự năm 2005 chỉ quy định về di sản thừa kế nói chung còn di sản là quyền sử dụng đất được quy định cụ thể trong Luật đất đai năm 2003.
Theo quy định tại Nghị quyết số 02 của Hội đồng thẩm phán Toà án Nhân dân tối cao ban hành ngày 10/8/2004 thì quyền sử dụng đất được xác định là di sản thừa kế trong những trường hợp sau:
- Đối với đất do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất) mà người đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003 thì quyền sử dụng đất đó là di sản.
- Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có 1 trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 điều 50 Luật đất đai năm 2003 (có 8 loại giấy tờ), thì kể từ ngày 1/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế.
Trong các quy định của pháp luật thừa kế có những quy định cụ thể về di sản dùng vào việc thờ cúng. Đây là sự định đoạt của người chết dành 1 phần tài sản của mình để đảm bảo cho việc thờ cúng mình và thờ cúng tổ tiên. Phần di sản thờ cúng chỉ dùng vào việc thờ cúng mà không được chia cho những người thừa kế và người lập di chúc sẽ chỉ định người được giao quản lý, sử dụng. Người được giao quản lý di sản thờ cúng chỉ có quyền sử dụng, thu lợi của tài sản để thực hiện việc thờ cúng chứ không có quyền sở hữu đối với tài sản đó.
Liên quan đến di sản thừa kế, quy định về người quản lý di sản thừa kế cũng được xác định là người được chỉ định trong di chúc hay do những người thừa kế thoả thuận cử ra. Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì những người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản. Trong trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.
Người quản lý di sản có nghĩa vụ lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản thừa kế mà người khác đang chiếm hữu; bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản; thông báo về di sản cho những người thừa kế; bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây ra thiệt hại; giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế....
Ngoài ra người quản lý di sản có quyền thay mặt cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế; được tiếp tục sử dụng di sản theo thoả thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hay được sự đồng ý của những người thừa kế; được hưởng thù lao theo thoả thuận với những người thừa kế...
3.Thời điểm mở thừa kế và thời hiệu khởi kiện về thừa kế:
Quy định này rất quan trọng vì liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người thừa kế cụ thể là quyền thừa kế của họ có được bảo vệ bằng pháp luật hay không.
Căn cứ để xác định quyền thừa kế phát sinh là thời điểm mở thừa kế-đó là thời điểm người để lại tài sản chết. Người có tài sản để thừa kế có thể lập di chúc định đoạt nhưng thời điểm mở thừa kế chỉ bắt đầu khi người có tài sản chết. Việc mở thừa kế được xác định bởi thời điểm mở thừa kế, tức là ngày giờ người để lại di sản chết theo giấy khai tử hay theo quyết định của toà án tuyên bố một người là đã chết.
Yêu cầu xác định thời điểm mở thừa kế là bắt buộc vì liên quan đến việc xác định tài sản, nghĩa vụ của người chết. Đây cũng là thời điểm để xác định những người thừa kế của người để lại di sản theo di chúc hay theo pháp luật. Chỉ từ thời điểm mở thừa kế thì những người thừa kế mới có các quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản hay nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hay có phần lớn di sản.
Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là thời hạn mà người thừa kế được quyền khởi kiện để yêu cầu toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Pháp lệnh thừa kế và Bộ luật dân sự đều quy định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là một chế định pháp lý quan trong theo đó thì trong thời hạn 10 năm này, người thừa kế có thể thực hiện quyền thừa kế của mình bằng việc khởi kiện tại toà án để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hay bác bỏ quyền thừa kế của người khác. Quyền thừa kế bị chấm dứt khi hết thời hạn khởi kiện mà pháp luật quy định. Bộ lu...