Download Vai trò của truyền thống văn hóa phương Đông đối với liên kết doanh nghiệp miễn phí





Huaren Gongsi– Công ty của người Hoa: Những con rồng, con
hổ khác ở Đông á bừng tỉnh được một phần là do sự đóng góp của cộng
đồng người Hoa. Dòng di cưHoa kiều toả đi tứ phía từ nhiều thế kỷ nay,
đặc biệt từ cuối đời Minh, tới vùng Đông Nam Châu á nào họ cũng làm tìm
cách kiểm soát huyết mạch tài chính và thương mại ở đó; từ Chợ Lớn ở
Việt Nam, cho tới Mã Lai hay Thái Lan. Singapore, Đài Loan các xứ sở
được kiểm soát bởi người Hoa đã trở nên giàu có nhanh chóng – mà không
theo khuôn mẫu dân chủ kiểu Mỹ. Điềugì đã làm lên sức mạnh của mạng
lưới kinh doanh các công ty người Hoa. Đề tài này dường nhưquá lớn so
với quyển sách này, song muốn dự đoán tương lai của Việt Nam, không thể
không nhìn vào những điều mà người Hoa đã và đang làm.
 



Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

một ngân hàng chính và những thiết chế tài chính khác,
một công ty kinh doanh th−ơng mại tổng hợp (sogo shosha), những nhà
sản xuất chính và các đầu mối cung cấp vật t−, linh kiện, dịch vụ, tiêu thụ
cho đủ mọi ngành nghề. Ngân hàng của tập đoàn là nguồn cung cấp vốn
dài hạn ổn định cho các công ty, trong khi đó công ty th−ơng mại tập trung
vào tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài n−ớc. Sogo shosha đã trở nên vô
cùng lợi hại trong việc đ−a n−ớc Nhật thành c−ờng quốc xuất khẩu, bởi nó
góp phần giảm chi phí cho doanh nghiệp khi tấn công vào những thị
tr−ờng n−ớc ngoài.
Với bạn đọc quyen với học thuyết pháp nhân và mô hình combinat
của ng−ời Nga, cần nhấn mạnh rằng tập đoàn của ng−ời Nhật tốt nhất nên
hiểu nh− một mạng l−ới kinh doanh, mọi doanh nghiệp tham gia mạng
đều là những công ty độc lập. Mạng l−ới thực ra là một thứ vô hình, không
có nơi bắt đầu, cũng không kết thúc, không phải là chủ thể của pháp luật,
không có t− cách pháp nhân, song lại có sức mạnh to lớn. [Kinh tế mạng
không phải là doanh nghiệp, mạng cũng không phải là thị tr−ờng. Kinh tế
mạng có ở khắp nơi, từ Đông á, Mỹ, cho đến Châu Âu. Ngày nay các nhà
tài phiệt giấu mặt, ẩn sau hằng hà sa số các công ty con, liên doanh, hợp
doanh có mặt ở khắp mọi nơi. Một quyết định ở Wall Street cũng có thể
làm chao đảo nền tài chính của nhiều quốc gia, nh− đã từng xảy ra cuối
những năm 90, mà không cần đến một thiết chế hữu hình, một pháp nhân
nào]. Bởi vậy gom góp tất cả các doanh nghiệp nhà n−ớc từ nhỏ đến lớn của
một ngành vào một tổng công ty, ban cho tổng công ty đó t− cách pháp
nhân, rồi hy vọng nó sẽ thành một “quả đấm thép” trong cạnh tranh, thì
thật là một suy nghĩ giản đơn. Ng−ời ta đã mau chóng quên bài học châu
chấu đá voi; những tổ ba ng−ời rải rác khắp miền Nam đ−ợc liên kết lại bởi
những bộ não chiến l−ợc và kỷ luật sắt đã làm run sợ cả guồng máy chiến
tranh điện tử tối tân. Cái to lớn và hữu hình có thể là một điều kiện, song
6 Chữ Keiretsu gồm hai chữ ghép lại, chữ kei nghĩa nh− liên kết, nhóm, chữ retsu nghĩa
nh− trật tự, sắp xếp. Hai chữ này ghép lại thành chữ tập đoàn. Vì dịch thuật có thể làm
sai lệch bản chất của mô hình n−ớc ngoài, cho nên ng−ời ta th−òng dùng nguyên văn, mà
không phiên âm, cũng không dịch. Khi tui hỏi vài ng−ời biết chữ Nho, thì họ cho rằng các
chữ tài đoàn tiếng Hán, cheabol tiếng Hàn và zaibatsu tiếng Nhật đều có cùng một cách
viết.
Chương trỡnh Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niờn khúa 2004-2005
Luật và Kinh tế
Buụn cú bạn, bỏn cú phường
Phạm Duy Nghĩa 5
ch−a phải là nguồn gốc sức mạnh; một nghìn cái nhỏ, xâu chuỗi lại bằng
một ý chí duy nhất, một tinh thần duy nhất mới là sức mạnh làm nên
chiến thắng trong chiến tr−ờng cũng nh− trong kinh doanh.
Keiretsu, về đại thể, có thể chia thành hai loại: (i) các liên kết ngang
giữa doanh nghiệp thuộc đủ mọi ngành nghề, (ii) các liên kết dọc từ nhà
sản xuất, cung ứng vật t− đến tiêu thụ sản phẩm trong một nghề nhất
định. Đối với liên kết ngang, n−ớc Nhật có khoảng sáu tập đoàn điển
hình[7]. Sáu tập đoàn này tập hợp doanh nghiệp rải rác trong tất cả các
ngành công nghiệp của n−ớc Nhật, từ luyện kim, đóng tàu, hoá chất, xây
dựng cho đến th−ơng mại. Nắm giữ đan chéo một l−ợng phần cổ phần nhỏ,
lãnh đạo các doanh nghiệp phần thông qua giao l−u trao đổi th−ờng xuyên,
phần cùng bị ảnh h−ởng bởi chính sách của một ngân hàng và công ty
th−ơng mại chung, nên có những chiến l−ợc kinh doanh thống nhất, cùng
hợp tác và t−ơng trợ khi khó khăn về tài chính. Điều này làm cho các công
ty thành viên thuộc các tập đoàn liên kết ngang của ng−ời Nhật tuy hoàn
toàn độc lập về tài chính và pháp lý, song cùng chia sẻ những chiến l−ợc
kinh doanh chung, kinh nghiệm quản lý, đặc biệt là quản lý chất l−ợng,
chính sách nhân sự và chính sách tiếp cận thị tr−ờng. Đối với liên kết dọc,
các nhà cung cấp vật t−, nguyên liệu, vật liệu thay thế, (đặc biệt là trong
công nghiệp sản xuất ôtô) trở thành vệ tinh cho một cơ sở sản xuất lớn, họ
cùng chia sẻ công nghệ, tên th−ơng mại và cách tổ chức kinh doanh. Niềm
tin và sự trung thành làm cho một doanh nghiệp gắn chặt một cách lâu dài
với tập đoàn, việc rút khỏi một tập đoàn liên kết dọc để trở thành thành
viên của một tập đoàn khác d−ờng nh− không thể xảy ra.
Từ những quan sát trên cho thấy vốn đ−ợc huy động ở Nhật về cơ
bản thông qua các trung gian tài chính, th−ờng là các ngân hàng th−ơng
mại. Thị tr−ờng chứng khoán không phải do các cá nhân, mà do các cổ
đông là các công ty, các ngân hàng khống chế. Việc quản lý các doanh
nghiệp bị ảnh h−ởng đáng kể bởi các ngân hàng và các công ty khác. Cung
cách quản trị doanh nghiệp của ng−ời Nhật vì vậy cũng chịu ảnh h−ởng
của các đại cổ đông này. Thêm nữa, do các doanh nghiệp của cùng một tập
7 Mitsui, Mitsubishi, Sumitomo, Fuyo và hai tập đoàn tài chính Daiichi Kangyo và
Sanwa, xem Richter, sđd, tr. 92.
Chương trỡnh Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niờn khúa 2004-2005
Luật và Kinh tế
Buụn cú bạn, bỏn cú phường
Phạm Duy Nghĩa 6
đoàn duy trì mối quan hệ kinh doanh của họ dựa trên sự phụ thuộc và tin
t−ởng lẫn nhau, thành ra việc ký kết hợp đồng cũng mang tính chất t−ợng
tr−ng, nếu có tranh chấp cũng giải quyết theo th−ơng l−ợng và hoà giải.
Niềm tin và quan hệ gắn bó lâu dài đã phần nào thay thế pháp luật và
tranh tụng. Trong một cung cách kinh doanh nh− vậy, luật s− không có
một vài trò đáng kể nh− ở Ph−ơng Tây.
Chẳng những trong mối quan hệ giữa các công ty, mà ngay cả trong
quan hệ nội bộ của một doanh nghiệp, niềm tin và những nguyên tắc đạo
đức của Khổng giáo, những triết lý sống căn bản của ng−ời Nhật cũng thay
thế vai trò của pháp luật. Quan hệ giữa doanh nghiệp và ng−ời lao động
không chỉ đơn thuần là quan hệ lao động giữa chủ và thợ, mà là một cái vũ
trụ thu nhỏ, ng−ời lao động trở thành thành viên của một gia đình lớn,
doanh nghiệp nhận lấy bổn phận giáo dục, đào tạo, chăm lo cho công nhân
của mình. Vì l−ơng và sự thăng tiến gắn với thâm niên trong doanh
nghiệp, cho nên tuổi tác và kinh nghiệm đ−ợc tôn trọng. Điều gắn bó dựa
trên những giá trị của xã hội Khổng giáo này làm cho những hoạt động tự
phát từ phá máy, cho đến đình công trở nên xa lạ trong xã hội ng−ời Nhật.
Cũng bởi vậy Bộ luật lao động và các thiết chế tài phán luật lao động, an
sinh xã hội ở Nhật không có vị trí nh− ở Đức, Thuỷ Điển và các n−ớc dân
chủ xã hội khác. Tuy nhiên, từ m−ời năm nay kinh tế Nhật suy thoái liên
tục, tính hiệu quả của mô hình làm việc suốt đời và thăng tiến theo thâm
niên cũng nh− cách quản trị của ng−ời Nhật d−ờng nh− đã tiến đến giới
hạn của nó.
Cheabol: Nếu thập kỷ 70 thuộc về ng−ời Nhật, thì thập kỷ 80 thuộc
về ng−ời Nam Hàn. Các doanh nghiệp đã góp phần làm xứ này đã giàu lên
nhanh một cách đáng kinh ngạc...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác

Top