Keandre

New Member

Download miễn phí Giáo trình Hình thái giải phẫu thực vật





Chức năng chủyếu của gỗlà dẫn truyền, ngoài ra gỗcòn tham gia
việc giữvững cơthểvà làm chức năng dựtrữ.
Gỗchiếm phần chủyếu vềkhối lượng trong các cơquan trục, nhất là
những cây thân gỗchiếm 80-90% khối lượng. Nghiên cứu giải phẩu gỗ
không chỉnhằm mục đích thực tiễn mà còn có ý nghĩa lý thuyết sâu xa về
phân loại học cũng nhưcác lĩnh vực thực nghiệm khác.
Gỗsơcấp: Xuất hiện sớm trong quá trình sinh trưởng của cây gồm
gỗtrước hình thành trước có mạch nhỏ, và gỗsau hình thành sau với mạch lớn.



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

sơ cấp và màng dày hơn. Do đó làm nhiệm vụ dẫn truyền
tốt hơn. Ở mạch thông thứ cấp cũng có đặc điểm lòng mạch rất lớn và
thành mạch dày.
- Các yếu tố không dẫn gồm: Mô mềm gỗ thứ cấp, làm chức năng dự
trữ và góp phần dẫn truyền. Trong mô mềm gỗ thứ cấp có các tia gỗ: tia
xuyên tâm và tia dọc, nếu chỉ có một loại gọi là tia đồng hình, nếu có cả 2
loại gọi là tia dị hình. Người ta lại phân biệt tia 1 dãy và tia nhiều dãy.
Trong quá trình tiến hóa có sự giảm chiều dài của tia, tia dị hình phát triển
thành tia đồng hình giúp sự dẫn truyền hướng tâm tốt hơn.
Sợi gỗ thứ cấp làm chức năng nâng đỡ. Ngoài ra còn có các sợi bổ
sung, sợi hàng ngang, đó là những tế bào sống làm chức năng dự trữ.
2.2. Libe (Phloem)
Chức năng chính của libe là dẫn truyền các chất hữu cơ, sản phẩm
của quá trình quang hợp; ngoài ra còn tham gia trong nhiệm vụ nâng đỡ và
dự trữ.
- Libe sơ cấp: Các yếu tố dẫn truyền gồm:
Tế bào rây: Có ở những thực vật kém tiến hóa như Quyết, Hạt trần.
Ở thực vật hạt kín tế bào rây có ở các bộ phận non. Ðó là những tế bào có
tế bào chất, không nhân (do đó không sống lâu được), lúc đầu còn không
bào nhưng sau mất đi, lúc này tế bào tràn đầy tế bào chất. Hệ thống mạng
lưới nội chất phát triển màng bên và màng ngang dày lên không đều,
những sợi liên bào xuyên qua những phần màng không dày lên, hệ thống
mạng lưới nội chất chạy qua các sợi liên bào để qua các tế bào rây khác.
Nhựa luyện đi qua mạng lưới nội chất do đó không bị đông đặc. Tốc độ
dẫn truyền của tế bào rây chậm, với lưu lượng ít.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered phiên bản -
80
Ống rây: Do nhiều thành phần họp lại, nối liền nhờ một màng ngang
thủng lỗ gọi là phiến rây. Phiến rây phát triển mạnh ở thực vật hạt kín, tiến
hóa hơn tế bào rây có mạng lưới nội chất xuyên qua nhiều hơn, lưu lượng
dẫn truyền nhiều và nhanh hơn. Trong quá trình tiến hóa phiến rây nhiều
vùng rây phát triển thành phiến rây đơn, từ phiến rây xiên chuyển thành
phiến rây ngang.
Các yếu tố không dẫn gồm :
* Tế bào kèm: Là những tế bào sống, nằm cạnh ống rây, màng
xenlulô có nguồn gốc từ tế bào mẹ ống rây, liên hệ với ống rây bằng
những sợi liên bào thông qua phần mỏng của màng. Sự xuất hiện tế bào
kèm là dấu hiệu tiến hoá cao của thực vật hạt kín. Có nhiều ý kiến về chức
năng của tế bào kèm như dự trữ, tiết hệ thống men giúp ống rây khỏi đông
chất hữu cơ.
Ở thực vật hạt trần hay thực vật thân trụ tiến hóa thấp chưa có tế bào
kèm chỉ có tế bào prôtit chứa nhiều prôtêin, nguồn gốc từ tế bào mô mềm
phloem, chức năng gần giống tế bào kèm.
* Mô mềm libe: Là những tế bào màng mỏng làm nhiệm vụ dự trữ
và góp phần dẫn truyền qua các sợi liên bào .
* Sợi libe: Là những tế bào chết hình thoi làm nhiệm vụ nâng đỡ ở
thực vật hạt kín.
- Libe thứ cấp: Được hình thành từ tầng phát sinh trụ thành phần
cũng giống như libe sơ cấp, ngoài ra còn có thêm các sợi libe bổ sung, sợi
libe hàng ngang, đó là những tế bào hình thoi, làm nhiệm vụ dự trữ .
Cấu tạo chuyên hóa của libe thứ cấp còn biểu hiện ở sự hình thành
sợi libe thường nằm thành đám xen kẻ với mô mềm libe, phân biệt các sợi
đó là libe cứng và mô mềm đó là libe mềm. Ở các tế bào mô mềm libe
thường chứa tinh bột, dầu, tanin và tinh thể.
1 2
Simpo PDF Merge and Split Unregistered phiên bản -
81
3. Các kiểu bó mạch
Tập hợp các yếu tố gỗ và libe được gọi là hệ thống dẫn. Hệ thống
dẫn ở các cơ quan thực vật đều có cấu tạo theo một trật tự nhất định.
Chúng có thể tập hợp thành những nhóm riêng gọi là bó mạch. Kiểu cấu
taọ này thường thấy ở cơ quan non của đa số cây và ở trong cơ quan
trưởng thành của một số cây khác. Ở những giai đoạn sinh trưởng sau của
phần lớn thực vật 2 lá mầm và hạt trần thân gỗ, hệ thống dẫn thường họp
thành một trụ dẫn liên tục với libe nằm ngoài, gỗ nằm trong, tầng phát sinh
trụ nằm giữa gỗ và libe.
Hình 13: Bó chồng chất kép ở thân Bí ngô
1
2
3
4
1
2
3
4
Hình 11: Cấu tạo mạch rây (cắt dọc)
1.Mạch rây 2.Phiến rây
Hình 12: Bó xếp chồng chất: Bó dẫn kín ở thân Tre; b.Bó dẫn hở ở thân Trầu
1.Libe; 2.Gỗ; 3.Tế bào mô cứng; 4.Mô mềm
Hình 14: Bó xen kẽ ở rễ chuối
1. Mô mềm; 2.Libe ngoài; 3.Mạch gỗ; 4.Libe trong
Khái quát, chúng ta có thể phân biệt một số loại bó mạch sau :
3.1. Các kiểu bó mạch đơn giản
Simpo PDF Merge and Split Unregistered phiên bản -
82
Trong mỗi bó chỉ có 1 thành phần libe hay gỗ. Vì vậy có tác giả cho
là bó mạch thiếu.
Bó libe hay bó gỗ
Loại bó mạch đơn giản có ở rễ là bó mạch phóng xạ, đối xứng qua
tâm .
3.2. Các kiểu bó mạch phức tạp
- Bó mạch đồng tâm: Là loại bó mạch kém tiến hóa nhất
Bó gỗ libe: Gỗ trong, libe bao bọc ngoài (ở Quyết thực vật).
Bó libe gỗ: Libe trong, gỗ ngoài (Họ Liliaceae)
- Bó mạch chồng chất đơn: Gỗ dưới và libe ở trên .
Bó mạch chồng chất đơn hở: Có tầng phát sinh trụ nằm giữa libe
và gỗ (ở thực vật 2 lá mầm )
Bó mạch chồng chất đơn kín: Không có tầng phát sinh trụ ở giữa
bó mạch (ở thực vật một lá mầm )
- Bó mạch chồng chất kép: Có cả libe ngoài và libe trong .
Bó mạch kép một tầng phát sinh trụ ( thấy nhiều ở thực vật 2 lá
mầm )
Bó mạch kép đặc trưng (như ở Họ Cucurbitaceae )
- Bó mạch giải: Libe và gỗ làm thành dải xen kẻ nhau .
Các kiểu bó mạch mang tính đặc trưng di truyền là những dấu hiệu
chẩn đoán trong phân loại học.
V. Mô cơ bản
Mô cơ bản hay còn gọi là mô mềm, mô mềm gồm những tế bào
chuyên hóa kém, đó là những tế bào sống, kích thước đồng đều. Các chức
năng của mô mềm phụ thuộc vào sự có mặt của các thể nguyên sinh sống,
chính vì vậy mô mềm có đặc tính phức tạp cao về mặt sinh lý, có khả
năng phục hồi hoạt động phân sinh.
Mô cơ bản chiếm một thể tích lớn trong cây với những giới hạn
không gian không rõ rệt.
Mô cơ bản có nguồn gốc từ mô phân sinh cơ bản góp phần cấu tạo
nên cơ thể cây cấp một. Ngoài ra, hoạt động của các tầng phát sinh vỏ,
tầng phát sinh trụ cũng có khi hình thành các tế bào mô mềm thứ cấp, ví
dụ lục bì, mô mềm gỗ thứ cấp.
1. Phân loại mô mềm
Simpo PDF Merge and Split Unregistered phiên bản -
83
Tùy theo chức năng của các loại mô mềm khác nhau người ta phân
biệt:
1.1. Mô mềm đồng hóa
Có ở thịt lá, một phần ở thân non, có khi phân hóa thành mô dậu và
mô khuyết.
1.2. Mô mềm dự trữ
Mô mềm dự trữ có ở các cơ quan quả, hạt, ngay cả ở thân và rễ,
chứa các sản phẩm dự trữ như tinh bột, dầu, prôtit, các chất đường v.v... Ở
những cây mọng nước, mô mềm dự trữ nước như cây xương rồng, thuốc
bỏng. Ở các cây thủy sinh hay ngập nước, bùn lầy, mô mềm hình thành
các khoảng gian bào chứa khí như sen, súng, bần, đước.
1.3. Mô mềm có thể chuyên hóa thành các thành phần cơ học, các cấu trúc
tiết.
Ngoài ra, chúng còn góp phần vào việc vận chuyển như các tia ruột,
các tế bào thu góp quanh bó mạch ở lá.
C
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác

Top