razvanvoicu79
New Member
Chuyên đề Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại chi cục hải quan cảng Cửa Lò
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 6
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 6
1. Khái niệm thuế xuất nhập khẩu 6
2. Phân loại thuế xuất nhập khẩu 6
3. Vai trò của thuế xuất nhập khẩu 9
4. Tác động của thuế xuất nhập khẩu 10
II. QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 14
1. Sự cần thiết phải quản lý thu thuế xuất nhập khẩu 14
2. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý thu thuế
xuất nhập khẩu 16
III. NỘI DUNG CONG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 18
1. Quản lý đối tượng nộp thuế 19
2. Xây dựng và lựa chọn quy trình quản lý thu thuế: 19
3. Tính thuế và thu thuế 20
4. Thanh tra thuế 20
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CẢNG CỬA LÒ 22
I. VÀI NẫT KHÁI QUÁT VỀ CHI CỤC HẢI QUAN CẢNG CỬA LÒ 22
1.Khỏi quát lịch sử hình thành và phát triển 22
2. Chức năng, nhiệm vụ của Chi cục Hải quan Cảng Cửa Lò 22
3. Cơ cấu tổ chức 25
4. Các nguồn lực: 27
5. Những nhiệm vụ của Chi cục trong giai đoạn tới 28
II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CẢNG CỬA LÒ 30
1. Tình hình quản lý đối tượng nộp thuế xuất nhập khẩu 30
2. Công tác quản lý căn cứ tính thuế xuất nhập khẩu 33
3. Tình hình quản lý thu thuế 40
4. Tình hình công tác quản lý xét miễn thuế 45
5. Tình hình công tác thanh tra, kiểm tra thuế xuất nhập khẩu 46
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CẢNG CỬA LÒ 48
1. Những kết quả đạt được 48
2.Một số hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Chi cục hải quan Cảng Cửa lò. 50
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CẢNG CỬA LÒ 53
I. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 53
1. Quan điểm 53
2. Phương hướng 54
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CẢNG CỬA LÒ 55
1. Kiến nghị vói Nhà nước và các ngành, các cấp có liên quan 55
2. Một số giải pháp kiến nghị với Chi cục Hải quan Cảng Cửa Lò nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu 60
2.1. Hoàn thiện công tác quản lý đối tượng nộp thuế. 60
2.2. Hoàn thiện công tác quản lý căn cứ tính thuế 61
2.3. Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra 65
2.4. Hoàn thiện công tác thu thuế, hạn chế nợ đọng thuế 67
2.5. Kiện toàn bộ máy tổ chức, quy trình nghiệp vụ và đào tạo cán bộ tại Chi cục Hải quan Cảng Cửa Lò 68
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-11-27-chuyen_de_mot_so_giai_phap_hoan_thien_cong_tac_qua.O8kVO1tzHA.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-47672/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Quản lý thu thuế xuất nhập khẩu là một quá trình thực hiện những hình thức, các biện pháp cụ thể hóa các chính sách của Nhà nước về lĩnh vực thuế xuất nhập khẩu, trong quá trình đú các nhà quản lý mà ở đõy là các cán bộ Hải quan bằng việc sử dụng các nghiệp vụ tác động vào đối tượng nộp thuế là các chủ hàng nhằm đảm bảo thực hiện thành công những mục tiêu đề ra. Đõy là những chủ thế tạo ra số thu cho Ngân sách Nhà nước.
ĐTNT theo quy định tại Điều 4 của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, bao gồm:
- Chủ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
- Tổ chức nhận uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu
- Cỏ nhõn có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu khi xuất cảnh, nhập cảnh; gửi hay nhận hàng hoá qua cửa khẩu biên giới Việt Nam.
Có nhiều phương pháp quản lý đối tượng nộp thuế khác nhau như: quản lý theo loại hình doanh nghiệp, quản lý theo mã số thuế,…
Chi cục Hải quan Cảng Cửa lò đã áp dụng phương pháp quản lý theo mã số thuế để quản lý các đối tượng nộp thuế.
Mỗi doanh nghiệp khi mới ra kinh doanh sẽ phải đăng ký kinh doanh để được cấp mã số thuế. Cùng với đăng ký kinh doanh thì kê khai đăng ký cấp mã số thuế là quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp. Nó là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở ngay từ khi mới bắt đầu hoạt động.
Đơn vị tính: Doanh nghiệp
Năm
Số doanh nghiệp đăng ký mã số thuế
2003
30
2004
25
2005
27
Do thấy được tầm quan trọng của việc đăng ký mã số thuế, trong những năm qua, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn quản lý của Chi cục đã 100 % kê khai đăng ký cấp mã số thuế và đã có mã số thuế đầy đủ. Cụ thể trong năm 2003 có 30 doanh nghiệp, năm 2004 có 25 doanh nghiệp và năm 2005 là 27 doanh nghiệp.
Ngoài các biện pháp mang tính nghiệp vụ, Chi cục Hải quan Cảng Cửa lò còn phối hợp với cơ quan Kế hoạch và Đầu tư để kiểm tra đăng ký thuế qua đăng ký kinh doanh. Nhờ làm tốt công tác này mà Chi cục Hải quan đã quản lý khá chặt chẽ số đối tượng mới thành lập.
Tất cả đối tượng xuất nhập khẩu hàng hoá nếu thuộc diện tính thuế xuất nhập khẩu đều được cán bộ Hải quan, giám sát, quản lý, hướng dẫn làm thủ tục nộp thuế đầy đủ.
Quyết định số 56/2003/QĐ- BTC ngày 16 tháng 4 năm 2003 ra đời đã tạo ra bước chuyển rõ rệt, làm cho tính chủ động của chủ hàng được phát huy cao độ thông qua việc chủ hàng tự khai, tự tính thuế, mọi sai sót nhầm lẫn đều được cán bộ phụ trách hướng dẫn điều chỉnh kịp thời và hướng dẫn rất tận tình. Các cán bộ chỉ là người hướng dẫn làm thủ tục và kiểm tra, hơn nữa các thủ tục, giấy tờ cần thiết, sơ đồ quy trình và những quy định có liên quan tại cửa khẩu đều được niêm yết công khai do đú tránh được tình trạng mập mờ không rõ ràng gây khó dễ cho các chủ hàng khi làm thủ tục.
Cụ thể, ngay khi tiếp nhận tờ khai các hồ sơ được phân loại ngay: nếu hàng hoá thuộc diện được miễn kiểm tra và không có thuế thỡ lónh đạo Chi cục sẽ xác nhận đã làm thủ tục Hải quan và cho thông quan ngay, nếu hàng hoá thuộc diện có thuế thì sẽ được chuyển sang khõu tớnh thuế, để xác đinh số thuế doanh nghiệp phải nộp nhờ đó mà quản lý được đối tượng nộp thuế này.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn có những điểm chưa chưa chặt chẽ về mặt chính sách, một số đối tượng lợi dụng việc xuất nhập cảnh thường xuyên cùng với đơn vị hày doanh nghiệp của mình để vận chuyển hàng hoá trái phép qua cửa khẩu.Trong thời gian qua trên địa bàn quản lý của Chi cục vẫn còn nhiều trường hợp các cá nhân buôn lậu, vận chuyển hàng hoá trái phép nhằm mục đích chốn thuế. Cụ thể như trong quý IV/2005, cán bộ Hải quan Chi cục đã phát hiện 2 trường hợp buôn lậu điện thoại di động qua cửa khẩu Cảng.
Nhận xét: Nhìn chung công tác quản lý đối tượng nộp thuế là các doanh nghiệp và cá nhân xuất nhập khẩu hàng hoá qua Cửa khẩu Cảng Cửa lò của Chi cục Hải quan Cảng Cửa lò trong thời gian qua là tương đối tốt. Qua phân tích một số vấn đề, có thế thấy công tác quản lý ĐTNT ở Chi cục Hải quan Cảng Cửa lò những năm qua đã đạt được kết quả tốt đó là tiền đề quan trọng để thực hiện các bước quản lý thuế sau này. Song cũng không vì thế mà lơi là việc quản lý, luôn luôn tìm biện pháp để hoàn thiện công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu hơn nữa là nhiệm vụ của các cán bộ Hải quan Chi cục.
2. Công tác quản lý căn cứ tính thuế xuất nhập khẩu
Để quản lý tốt thuế xuất nhập khẩu nói chung và công tác thu thuế nói riêng thì trước hết cần xác định đúng căn cứ tính thuế của hàng hoá. Căn cứ tính thuế xuất nhập khẩu là số lượng hàng hoỏ, giỏ tớnh thuế và thuế suất của từng mặt hàng thực tế xuất nhập khẩu.
2.1. Tình hình quản lý số lượng hàng hoá xuất nhập khẩu
Theo Thông tư 113/2005/TT- BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì “ Số lượng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu làm căn cứ tính thuế là số lượng từng mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu”.
Thực hiện công tác quản lý số lượng hàng hoá, Chi cục đã tiến hành các công tác như: kiểm hoá thực tế hàng hoá, đối chiếu hàng hoá thực tế với tờ khai và phát hiện ra sự gian lận trong khai báo, vi phạm chốn thuế.
Việc xác định đúng số lượng, trọng lượng hàng hoá xuất nhập khẩu có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình quản lý thu thuế xuất nhập khẩu. Nếu số lượng hàng hoá thực tế cao hơn số lượng ghi trên tờ khai thì số thuế mà ĐTNT phải nộp sê giảm đi làm thất thu cho ngân sách Nhà nước, ngược lại nếu số lượng hàng hoá thực tế nhỏ hơn so với tờ khai thì ĐTNT sẽ phải nộp nhiều thuế hơn gây thiệt hại về kinh tế cho ĐTNT.
Trong thời gian qua, hầu hết các sai phạm đều xuất phát từ việc ĐTNT cố ý khai báo không trung thực, cụ thể là khai báo số lượng, trọng lượng hàng hoá thấp hơn so với số lượng, trọng lượng hàng hoá xuất nhập khẩu thực tế. Mục đích của các đối tượng này là sẽ phải nộp thuế ít hơn so với số thuế phải nộp. Nhờ áp dụng các biện pháp nghiệp vụ trong quá trình kiểm hoá: kiểm tra điển hình theo tỷ lệ, kiểm tra toàn bộ,… kết hợp với đối chiếu với số lượng, trọng lượng khai báo nên việc phát hiện ra các sai phạm này là khụng khú. Riờng trong quý IV/ 2005, cán bộ Hải quan Chi cục đã phát hiện ra 2 trường hợp vi phạm do việc khai báo không trung thực của các chủ hàng.
Tuy có sự nỗ lực của cán bộ Hải quan trong việc kiểm tra, quản lý số lượng hàng hoá song do thiếu một số phương tiện chuyên dùng cho công tác kiểm hoá còn thiếu như hệ thống camera, máy soi,… đã làm cho công tác quản lý số lượng hàng hoá xuất nhập khẩu của cán bộ Chi cục chưa thực sự được đảm bảo, đặc biệt là vào những thời điểm hàng hoá xuất nhập khẩu qua Cảng nhiều, số lượng cán bộ lại hạn chế đã làm cho công tác quản lý ...
Download miễn phí Chuyên đề Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại chi cục hải quan cảng Cửa Lò
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 6
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 6
1. Khái niệm thuế xuất nhập khẩu 6
2. Phân loại thuế xuất nhập khẩu 6
3. Vai trò của thuế xuất nhập khẩu 9
4. Tác động của thuế xuất nhập khẩu 10
II. QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 14
1. Sự cần thiết phải quản lý thu thuế xuất nhập khẩu 14
2. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý thu thuế
xuất nhập khẩu 16
III. NỘI DUNG CONG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 18
1. Quản lý đối tượng nộp thuế 19
2. Xây dựng và lựa chọn quy trình quản lý thu thuế: 19
3. Tính thuế và thu thuế 20
4. Thanh tra thuế 20
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CẢNG CỬA LÒ 22
I. VÀI NẫT KHÁI QUÁT VỀ CHI CỤC HẢI QUAN CẢNG CỬA LÒ 22
1.Khỏi quát lịch sử hình thành và phát triển 22
2. Chức năng, nhiệm vụ của Chi cục Hải quan Cảng Cửa Lò 22
3. Cơ cấu tổ chức 25
4. Các nguồn lực: 27
5. Những nhiệm vụ của Chi cục trong giai đoạn tới 28
II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CẢNG CỬA LÒ 30
1. Tình hình quản lý đối tượng nộp thuế xuất nhập khẩu 30
2. Công tác quản lý căn cứ tính thuế xuất nhập khẩu 33
3. Tình hình quản lý thu thuế 40
4. Tình hình công tác quản lý xét miễn thuế 45
5. Tình hình công tác thanh tra, kiểm tra thuế xuất nhập khẩu 46
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CẢNG CỬA LÒ 48
1. Những kết quả đạt được 48
2.Một số hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Chi cục hải quan Cảng Cửa lò. 50
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CẢNG CỬA LÒ 53
I. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 53
1. Quan điểm 53
2. Phương hướng 54
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CẢNG CỬA LÒ 55
1. Kiến nghị vói Nhà nước và các ngành, các cấp có liên quan 55
2. Một số giải pháp kiến nghị với Chi cục Hải quan Cảng Cửa Lò nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu 60
2.1. Hoàn thiện công tác quản lý đối tượng nộp thuế. 60
2.2. Hoàn thiện công tác quản lý căn cứ tính thuế 61
2.3. Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra 65
2.4. Hoàn thiện công tác thu thuế, hạn chế nợ đọng thuế 67
2.5. Kiện toàn bộ máy tổ chức, quy trình nghiệp vụ và đào tạo cán bộ tại Chi cục Hải quan Cảng Cửa Lò 68
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-11-27-chuyen_de_mot_so_giai_phap_hoan_thien_cong_tac_qua.O8kVO1tzHA.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-47672/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
h được đối tượng nào thuộc diện quản lý của sắc thuế đó. Công tác quản lý ĐTNT là công việc đầu tiên trong cả quá trình và nú cú quyết định đến số thu vào Ngân sách cũng như đến việc kiểm tra, thanh tra sau này.Quản lý thu thuế xuất nhập khẩu là một quá trình thực hiện những hình thức, các biện pháp cụ thể hóa các chính sách của Nhà nước về lĩnh vực thuế xuất nhập khẩu, trong quá trình đú các nhà quản lý mà ở đõy là các cán bộ Hải quan bằng việc sử dụng các nghiệp vụ tác động vào đối tượng nộp thuế là các chủ hàng nhằm đảm bảo thực hiện thành công những mục tiêu đề ra. Đõy là những chủ thế tạo ra số thu cho Ngân sách Nhà nước.
ĐTNT theo quy định tại Điều 4 của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, bao gồm:
- Chủ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
- Tổ chức nhận uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu
- Cỏ nhõn có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu khi xuất cảnh, nhập cảnh; gửi hay nhận hàng hoá qua cửa khẩu biên giới Việt Nam.
Có nhiều phương pháp quản lý đối tượng nộp thuế khác nhau như: quản lý theo loại hình doanh nghiệp, quản lý theo mã số thuế,…
Chi cục Hải quan Cảng Cửa lò đã áp dụng phương pháp quản lý theo mã số thuế để quản lý các đối tượng nộp thuế.
Mỗi doanh nghiệp khi mới ra kinh doanh sẽ phải đăng ký kinh doanh để được cấp mã số thuế. Cùng với đăng ký kinh doanh thì kê khai đăng ký cấp mã số thuế là quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp. Nó là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở ngay từ khi mới bắt đầu hoạt động.
Đơn vị tính: Doanh nghiệp
Năm
Số doanh nghiệp đăng ký mã số thuế
2003
30
2004
25
2005
27
Do thấy được tầm quan trọng của việc đăng ký mã số thuế, trong những năm qua, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn quản lý của Chi cục đã 100 % kê khai đăng ký cấp mã số thuế và đã có mã số thuế đầy đủ. Cụ thể trong năm 2003 có 30 doanh nghiệp, năm 2004 có 25 doanh nghiệp và năm 2005 là 27 doanh nghiệp.
Ngoài các biện pháp mang tính nghiệp vụ, Chi cục Hải quan Cảng Cửa lò còn phối hợp với cơ quan Kế hoạch và Đầu tư để kiểm tra đăng ký thuế qua đăng ký kinh doanh. Nhờ làm tốt công tác này mà Chi cục Hải quan đã quản lý khá chặt chẽ số đối tượng mới thành lập.
Tất cả đối tượng xuất nhập khẩu hàng hoá nếu thuộc diện tính thuế xuất nhập khẩu đều được cán bộ Hải quan, giám sát, quản lý, hướng dẫn làm thủ tục nộp thuế đầy đủ.
Quyết định số 56/2003/QĐ- BTC ngày 16 tháng 4 năm 2003 ra đời đã tạo ra bước chuyển rõ rệt, làm cho tính chủ động của chủ hàng được phát huy cao độ thông qua việc chủ hàng tự khai, tự tính thuế, mọi sai sót nhầm lẫn đều được cán bộ phụ trách hướng dẫn điều chỉnh kịp thời và hướng dẫn rất tận tình. Các cán bộ chỉ là người hướng dẫn làm thủ tục và kiểm tra, hơn nữa các thủ tục, giấy tờ cần thiết, sơ đồ quy trình và những quy định có liên quan tại cửa khẩu đều được niêm yết công khai do đú tránh được tình trạng mập mờ không rõ ràng gây khó dễ cho các chủ hàng khi làm thủ tục.
Cụ thể, ngay khi tiếp nhận tờ khai các hồ sơ được phân loại ngay: nếu hàng hoá thuộc diện được miễn kiểm tra và không có thuế thỡ lónh đạo Chi cục sẽ xác nhận đã làm thủ tục Hải quan và cho thông quan ngay, nếu hàng hoá thuộc diện có thuế thì sẽ được chuyển sang khõu tớnh thuế, để xác đinh số thuế doanh nghiệp phải nộp nhờ đó mà quản lý được đối tượng nộp thuế này.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn có những điểm chưa chưa chặt chẽ về mặt chính sách, một số đối tượng lợi dụng việc xuất nhập cảnh thường xuyên cùng với đơn vị hày doanh nghiệp của mình để vận chuyển hàng hoá trái phép qua cửa khẩu.Trong thời gian qua trên địa bàn quản lý của Chi cục vẫn còn nhiều trường hợp các cá nhân buôn lậu, vận chuyển hàng hoá trái phép nhằm mục đích chốn thuế. Cụ thể như trong quý IV/2005, cán bộ Hải quan Chi cục đã phát hiện 2 trường hợp buôn lậu điện thoại di động qua cửa khẩu Cảng.
Nhận xét: Nhìn chung công tác quản lý đối tượng nộp thuế là các doanh nghiệp và cá nhân xuất nhập khẩu hàng hoá qua Cửa khẩu Cảng Cửa lò của Chi cục Hải quan Cảng Cửa lò trong thời gian qua là tương đối tốt. Qua phân tích một số vấn đề, có thế thấy công tác quản lý ĐTNT ở Chi cục Hải quan Cảng Cửa lò những năm qua đã đạt được kết quả tốt đó là tiền đề quan trọng để thực hiện các bước quản lý thuế sau này. Song cũng không vì thế mà lơi là việc quản lý, luôn luôn tìm biện pháp để hoàn thiện công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu hơn nữa là nhiệm vụ của các cán bộ Hải quan Chi cục.
2. Công tác quản lý căn cứ tính thuế xuất nhập khẩu
Để quản lý tốt thuế xuất nhập khẩu nói chung và công tác thu thuế nói riêng thì trước hết cần xác định đúng căn cứ tính thuế của hàng hoá. Căn cứ tính thuế xuất nhập khẩu là số lượng hàng hoỏ, giỏ tớnh thuế và thuế suất của từng mặt hàng thực tế xuất nhập khẩu.
2.1. Tình hình quản lý số lượng hàng hoá xuất nhập khẩu
Theo Thông tư 113/2005/TT- BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì “ Số lượng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu làm căn cứ tính thuế là số lượng từng mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu”.
Thực hiện công tác quản lý số lượng hàng hoá, Chi cục đã tiến hành các công tác như: kiểm hoá thực tế hàng hoá, đối chiếu hàng hoá thực tế với tờ khai và phát hiện ra sự gian lận trong khai báo, vi phạm chốn thuế.
Việc xác định đúng số lượng, trọng lượng hàng hoá xuất nhập khẩu có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình quản lý thu thuế xuất nhập khẩu. Nếu số lượng hàng hoá thực tế cao hơn số lượng ghi trên tờ khai thì số thuế mà ĐTNT phải nộp sê giảm đi làm thất thu cho ngân sách Nhà nước, ngược lại nếu số lượng hàng hoá thực tế nhỏ hơn so với tờ khai thì ĐTNT sẽ phải nộp nhiều thuế hơn gây thiệt hại về kinh tế cho ĐTNT.
Trong thời gian qua, hầu hết các sai phạm đều xuất phát từ việc ĐTNT cố ý khai báo không trung thực, cụ thể là khai báo số lượng, trọng lượng hàng hoá thấp hơn so với số lượng, trọng lượng hàng hoá xuất nhập khẩu thực tế. Mục đích của các đối tượng này là sẽ phải nộp thuế ít hơn so với số thuế phải nộp. Nhờ áp dụng các biện pháp nghiệp vụ trong quá trình kiểm hoá: kiểm tra điển hình theo tỷ lệ, kiểm tra toàn bộ,… kết hợp với đối chiếu với số lượng, trọng lượng khai báo nên việc phát hiện ra các sai phạm này là khụng khú. Riờng trong quý IV/ 2005, cán bộ Hải quan Chi cục đã phát hiện ra 2 trường hợp vi phạm do việc khai báo không trung thực của các chủ hàng.
Tuy có sự nỗ lực của cán bộ Hải quan trong việc kiểm tra, quản lý số lượng hàng hoá song do thiếu một số phương tiện chuyên dùng cho công tác kiểm hoá còn thiếu như hệ thống camera, máy soi,… đã làm cho công tác quản lý số lượng hàng hoá xuất nhập khẩu của cán bộ Chi cục chưa thực sự được đảm bảo, đặc biệt là vào những thời điểm hàng hoá xuất nhập khẩu qua Cảng nhiều, số lượng cán bộ lại hạn chế đã làm cho công tác quản lý ...
Tags: cong tac quản lí thuế xuất nhập khẩu tiểu luận, Phương hướng, đề xuất hoàn thiện về căn cứ tính thuế xuất khẩu, Quản lý thu thuế xuất nhập khẩu ở ở chi cục Hải quan cửa khẩu cả Cửa Lò tỉnh Nghệ An, công tác quan3 lý thu nộp ngân sách thuế xuất nhập khẩu, Luận văn Hoàn thiện công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam