[Free] Luận văn Hoàn thiện pháp luật về quản lý hành chính nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực thuê đất ở Việt Nam hiện nay
Sau khi được thành lập và có Giấy chứng nhận đầu tư, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tiến hành các công việc kinh doanh nhằm
sớm thu hồi khoản vốn đã bỏ ra và thu lợi nhuận. Trong suốt quá trình này,
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp
theo các quy định của pháp luật tương ứng với các lĩnh vực đầu tư, ví dụ có
các quyền và nghĩa vụ chung của doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp 2005;
quyền và nghĩa vụ về sử dụng lao động theo Luật laođộng năm 2002; quyền
và nghĩa vụ về sử dụng tín dụng theo Luật ngân hàng, Luật các tổ chức tín
dụng; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư theo luật đầu tư 2005; quyền và nghĩa
vụ của người sử dụng đất theo Luật đất đai 2003, v.v. phạm vi phần này đề
cập đến nội dung, thực trạng quản lý nhà nước về đất đai đối với đất thuê của
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong quá trình sản xuất kinh
doanh, mà cụ thể là các vấn đề như quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc
sử dụng đất thuê, bên thuê đất có sử dụng đất không, sử dụng có đúng mục
đích không, có quyền gì đối với đất mà mình đã thuê, có thực hiện nghĩa vụ
của người thuê đất không, v.v. và tương ứng với nó là các quyền và nghĩa vụ
của nhà nước trong việc quản lý đất cho thuê với tưcách là bên cho thuê
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho
vậy và không phải lúc nào có đủ tài chính là có thể thực hiện đ−ợc đối với các
doanh nghiệp n−ớc ngoài khi thuê đất tại Việt Nam nh−ng trách nhiệm của
chính quyền, của bên cho thuê đất đến đâu, lại không đ−ợc quy định một cách
đầy đủ và rõ ràng trong Luật đất đai 2003. Về nguyên tắc bên cho thuê đất phải
có trách nhiệm đảm bảo các điều kiện hạ tầng cần thiết (đ−ờng giao thông, điện,
cấp thoát n−ớc, viễn thông...) để bên thuê có thể khai thác quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, trong thực tế thi hành Luật đất đai 2003 vấn đề này gần nh− hoàn toàn
thuộc về trách nhiệm của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp phải tự mình xin phép
và thỏa thuận về chính sách và chi phí với các bên hữu quan để có đ−ợc các dịch
vụ hạ tầng tối thiểu để triển khai dự án trên đất, phổ biến là doanh nghiệp đầu t−
n−ớc ngoài phải làm việc với Sở Giao thông vận tải, Giao thông công chính, Cục
đ−ờng bộ để có đ−ợc đ−ờng giao thông kết nối khu đất dự án với mạng giao
thông công cộng, cấp thoát n−ớc; liên hệ với chi nhánh điện địa ph−ơng để
đ−ợc cung cấp nguồn điện; làm việc với B−u điện để đ−ợc dịch vụ viễn
thông,... Trong thực tế các cơ quan có thẩm quyền cho thuê đất và các quy
định của Luật đất đai đã "bỏ mặc" doanh nghiệp tự lo các dịch vụ hạ tầng nên
trong rất nhiều tr−ờng hợp đã dẫn đến bế tắc trong việc triển khai dự án đầu t−
trên đất đã đ−ợc thuê, mặc dù tr−ớc đó doanh nghiệp đã phải gánh chịu toàn
bộ các khoản chi phí theo quy định để có đ−ợc quyền sử dụng đất.
Khi hợp đồng thuê đất giữa doanh nghiệp đầu t− n−ớc ngoài và cơ quan
nhà n−ớc Việt Nam đ−ợc thiết lập thì hai bên phải bình đẳng với nhau về quyền
và nghĩa vụ, trong khi đó Luật đất đai 2003 lại chủ yếu quy định các quyền
mà thiếu các quy định về nghĩa vụ cần thiết, điển hình nh− các nghĩa vụ liên
hệ với các cơ quan, ban ngành có liên quan khác trong việc đảm bảo điều kiện
về giao thông, điện, n−ớc, v.v... cho bên cho thuê, dẫn đến hậu quả là gây thiệt
hại lớn cho bên đi thuê đất, tạo tâm lý e ngại và lo sợ khi doanh nghiệp đầu t−
n−ớc ngoài có ý định muốn thuê đất tại Việt Nam.
60
2.2. Quản lý nhà n−ớc về đất đai đối với đất thuê của các
doanh nghiệp có vốn đầu t− n−ớc ngoài
Đất đai là tài sản vô cùng quý giá của bất kỳ một quốc gia, dân tộc
nào, nó là một trong những yếu tố tạo nên chủ quyền quốc gia. Do vậy, dù ở
chế độ xã hội nào, từ tr−ớc đến nay nhà n−ớc đều luôn luôn bằng những chính
sách, hệ thống pháp luật, bộ máy các cơ quan nhà n−ớc thực hiện việc quản lý
đất đai tôn tạo, bảo vệ và khai thác những chức năng của đất đai phục vụ ngày
càng tốt hơn các lợi ích cho quốc gia, dân tộc. Nhà n−ớc quản lý đất đai thông
qua hàng loạt các nội dung công việc nh− ban hành pháp luật điều chỉnh quan
hệ đất đai; xác định địa giới hành chính; khảo sát, đo đạc, đánh giá hiện trạng
đất; lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất; thu hồi đất;
đăng ký quyền sử dụng đất; giải quyết tranh chấp về đất đai, v.v... Một trong
những nội dung quản lý nhà n−ớc về đất đai ngày càng trở nên quan trọng hơn
trong giai đoạn nền kinh tế thị tr−ờng hiện nay đó là việc cho các doanh
nghiệp đầu t− n−ớc ngoài thuê đất để sản xuất kinh doanh. Đây là một quy
luật mang tính chất tất yếu khách quan bởi lẽ nó phù hợp với xu h−ớng chung:
xu h−ớng xích lại gần nhau của các quốc gia, các nền kinh tế, xu h−ớng hội
nhập và toàn cầu hóa. Do vậy, việc doanh nghiệp của một n−ớc thuê đất để tổ
chức sản xuất kinh doanh trên một n−ớc khác là một điều diễn ra hết sức bình
th−ờng và ngày càng phổ biến. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển
trong cộng đồng quốc tế cũng không là ngoại lệ, đặc biệt hiện nay khi mà
chúng ta sắp trở thành thành viên chính thức của WTO.
Việt Nam đã mở cửa cho các doanh nghiệp đầu t− n−ớc ngoài vào thuê
đất để đầu t− thực hiện các dự án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ từ rất sớm, mà
phát triển nhất là từ sau khi có các Luật về đầu t− đ−ợc ban hành nh− Luật
Đầu t− n−ớc ngoài tại Việt Nam năm 1987, đ−ợc sửa đổi, bổ sung các năm
1990, 1992, 1996, 2000 đã tạo môi tr−ờng pháp lý ngày càng hấp dẫn cho việc
thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu t− trực tiếp n−ớc ngoài. Theo
61
báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu t− thì tính đến hết năm 2004, trên địa bàn cả
n−ớc có trên 5.300 dự án đầu t− n−ớc ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký
trên 47 tỉ USD, vốn đầu t− thực hiện đạt 31 tỉ USD. Năm 2004, khu vực đầu t−
n−ớc ngoài chiếm 17% tổng vốn đầu t− xã hội, tạo ra trên 14,5% GDP của cả
n−ớc chiếm gần 37% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp và gần 54% kim
ngạch xuất khẩu (kể cả xuất khẩu dầu thô) [3, tr. 2]. T−ơng đ−ơng với số
l−ợng các dự án đầu t− đó là số l−ợng các dự án, hợp đồng thuê đất đ−ợc ký
kết giữa các cơ quan nhà n−ớc, doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp
đầu t− n−ớc ngoài, số l−ợng dự án đầu t− vào Việt Nam ngày càng tăng, quy
mô càng lớn thì đồng thời số l−ợng lớn các hợp đồng thuê đất cũng càng lớn
và diện tích đất thuê càng nhiều. Điều này đòi hỏi vai trò của nhà n−ớc trong
việc quản lý đất đai đối với đất thuê của các doanh nghiệp đầu t− n−ớc ngoài
ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn. Để phân tích một cách sâu sắc nội dung và
thực trạng quản lý nhà n−ớc về thuê đất của các doanh nghiệp đầu t− n−ớc
ngoài tại Việt Nam, tác giả chia nội dung này làm ba phần ứng với ba giai đoạn
quản lý nhà n−ớc đối với một dự án đầu t−, đó là giai đoạn thành lập, đăng ký
đầu t−; giai đoạn hoạt động kinh doanh và giai đoạn kết thúc dự án đầu t−.
2.2.1. Quản lý nhà n−ớc đối với các doanh nghiệp giai đoạn thành
lập và đăng ký đầu t−
Trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập doanh nghiệp đầu t− n−ớc ngoài tại
Việt Nam đ−ợc thực hiện theo quy định tại Luật Đầu t− n−ớc ngoài năm 1996,
sửa đổi bổ sung năm 2000, h−ớng dẫn từ Điều 104 đến Điều 111 Nghị định
24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật
Đầu t− n−ớc ngoài tại Việt Nam. Kể từ ngày 01/7/2006 thủ tục thành lập và
đăng ký đầu t− đối với doanh nghiệp đầu t− n−ớc ngoài đ−ợc thực hiện thống
nhất với doanh nghiệp đầu t− trong n−ớc theo quy định tại mục 1 về thủ tục
đầu t− theo Luật đầu t− năm 2005. Theo đó, thủ tục đăng ký đầu t−, thẩm tra
dự án đối với các loại dự án khác nhau đều phải có các nội dung trong hồ sơ
62
đăng ký đầu t− liên quan đến vấn đề đất đai đó là: phải có địa điểm thực hiện
dự án đầu t− và nhu cầu sử dụng đất của doanh nghiệp đầu t−. Điều này có
nghĩa là để có đ−ợc Giấy chứng nhận đầu t−, doanh nghi
Download Luận văn Hoàn thiện pháp luật về quản lý hành chính nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực thuê đất ở Việt Nam hiện nay miễn phí
Sau khi được thành lập và có Giấy chứng nhận đầu tư, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tiến hành các công việc kinh doanh nhằm
sớm thu hồi khoản vốn đã bỏ ra và thu lợi nhuận. Trong suốt quá trình này,
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp
theo các quy định của pháp luật tương ứng với các lĩnh vực đầu tư, ví dụ có
các quyền và nghĩa vụ chung của doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp 2005;
quyền và nghĩa vụ về sử dụng lao động theo Luật laođộng năm 2002; quyền
và nghĩa vụ về sử dụng tín dụng theo Luật ngân hàng, Luật các tổ chức tín
dụng; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư theo luật đầu tư 2005; quyền và nghĩa
vụ của người sử dụng đất theo Luật đất đai 2003, v.v. phạm vi phần này đề
cập đến nội dung, thực trạng quản lý nhà nước về đất đai đối với đất thuê của
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong quá trình sản xuất kinh
doanh, mà cụ thể là các vấn đề như quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc
sử dụng đất thuê, bên thuê đất có sử dụng đất không, sử dụng có đúng mục
đích không, có quyền gì đối với đất mà mình đã thuê, có thực hiện nghĩa vụ
của người thuê đất không, v.v. và tương ứng với nó là các quyền và nghĩa vụ
của nhà nước trong việc quản lý đất cho thuê với tưcách là bên cho thuê
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho
Tóm tắt nội dung:
với vô số những vấn đề phức tạp, khó khăn và tốn kém nh−vậy và không phải lúc nào có đủ tài chính là có thể thực hiện đ−ợc đối với các
doanh nghiệp n−ớc ngoài khi thuê đất tại Việt Nam nh−ng trách nhiệm của
chính quyền, của bên cho thuê đất đến đâu, lại không đ−ợc quy định một cách
đầy đủ và rõ ràng trong Luật đất đai 2003. Về nguyên tắc bên cho thuê đất phải
có trách nhiệm đảm bảo các điều kiện hạ tầng cần thiết (đ−ờng giao thông, điện,
cấp thoát n−ớc, viễn thông...) để bên thuê có thể khai thác quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, trong thực tế thi hành Luật đất đai 2003 vấn đề này gần nh− hoàn toàn
thuộc về trách nhiệm của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp phải tự mình xin phép
và thỏa thuận về chính sách và chi phí với các bên hữu quan để có đ−ợc các dịch
vụ hạ tầng tối thiểu để triển khai dự án trên đất, phổ biến là doanh nghiệp đầu t−
n−ớc ngoài phải làm việc với Sở Giao thông vận tải, Giao thông công chính, Cục
đ−ờng bộ để có đ−ợc đ−ờng giao thông kết nối khu đất dự án với mạng giao
thông công cộng, cấp thoát n−ớc; liên hệ với chi nhánh điện địa ph−ơng để
đ−ợc cung cấp nguồn điện; làm việc với B−u điện để đ−ợc dịch vụ viễn
thông,... Trong thực tế các cơ quan có thẩm quyền cho thuê đất và các quy
định của Luật đất đai đã "bỏ mặc" doanh nghiệp tự lo các dịch vụ hạ tầng nên
trong rất nhiều tr−ờng hợp đã dẫn đến bế tắc trong việc triển khai dự án đầu t−
trên đất đã đ−ợc thuê, mặc dù tr−ớc đó doanh nghiệp đã phải gánh chịu toàn
bộ các khoản chi phí theo quy định để có đ−ợc quyền sử dụng đất.
Khi hợp đồng thuê đất giữa doanh nghiệp đầu t− n−ớc ngoài và cơ quan
nhà n−ớc Việt Nam đ−ợc thiết lập thì hai bên phải bình đẳng với nhau về quyền
và nghĩa vụ, trong khi đó Luật đất đai 2003 lại chủ yếu quy định các quyền
mà thiếu các quy định về nghĩa vụ cần thiết, điển hình nh− các nghĩa vụ liên
hệ với các cơ quan, ban ngành có liên quan khác trong việc đảm bảo điều kiện
về giao thông, điện, n−ớc, v.v... cho bên cho thuê, dẫn đến hậu quả là gây thiệt
hại lớn cho bên đi thuê đất, tạo tâm lý e ngại và lo sợ khi doanh nghiệp đầu t−
n−ớc ngoài có ý định muốn thuê đất tại Việt Nam.
60
2.2. Quản lý nhà n−ớc về đất đai đối với đất thuê của các
doanh nghiệp có vốn đầu t− n−ớc ngoài
Đất đai là tài sản vô cùng quý giá của bất kỳ một quốc gia, dân tộc
nào, nó là một trong những yếu tố tạo nên chủ quyền quốc gia. Do vậy, dù ở
chế độ xã hội nào, từ tr−ớc đến nay nhà n−ớc đều luôn luôn bằng những chính
sách, hệ thống pháp luật, bộ máy các cơ quan nhà n−ớc thực hiện việc quản lý
đất đai tôn tạo, bảo vệ và khai thác những chức năng của đất đai phục vụ ngày
càng tốt hơn các lợi ích cho quốc gia, dân tộc. Nhà n−ớc quản lý đất đai thông
qua hàng loạt các nội dung công việc nh− ban hành pháp luật điều chỉnh quan
hệ đất đai; xác định địa giới hành chính; khảo sát, đo đạc, đánh giá hiện trạng
đất; lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất; thu hồi đất;
đăng ký quyền sử dụng đất; giải quyết tranh chấp về đất đai, v.v... Một trong
những nội dung quản lý nhà n−ớc về đất đai ngày càng trở nên quan trọng hơn
trong giai đoạn nền kinh tế thị tr−ờng hiện nay đó là việc cho các doanh
nghiệp đầu t− n−ớc ngoài thuê đất để sản xuất kinh doanh. Đây là một quy
luật mang tính chất tất yếu khách quan bởi lẽ nó phù hợp với xu h−ớng chung:
xu h−ớng xích lại gần nhau của các quốc gia, các nền kinh tế, xu h−ớng hội
nhập và toàn cầu hóa. Do vậy, việc doanh nghiệp của một n−ớc thuê đất để tổ
chức sản xuất kinh doanh trên một n−ớc khác là một điều diễn ra hết sức bình
th−ờng và ngày càng phổ biến. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển
trong cộng đồng quốc tế cũng không là ngoại lệ, đặc biệt hiện nay khi mà
chúng ta sắp trở thành thành viên chính thức của WTO.
Việt Nam đã mở cửa cho các doanh nghiệp đầu t− n−ớc ngoài vào thuê
đất để đầu t− thực hiện các dự án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ từ rất sớm, mà
phát triển nhất là từ sau khi có các Luật về đầu t− đ−ợc ban hành nh− Luật
Đầu t− n−ớc ngoài tại Việt Nam năm 1987, đ−ợc sửa đổi, bổ sung các năm
1990, 1992, 1996, 2000 đã tạo môi tr−ờng pháp lý ngày càng hấp dẫn cho việc
thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu t− trực tiếp n−ớc ngoài. Theo
61
báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu t− thì tính đến hết năm 2004, trên địa bàn cả
n−ớc có trên 5.300 dự án đầu t− n−ớc ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký
trên 47 tỉ USD, vốn đầu t− thực hiện đạt 31 tỉ USD. Năm 2004, khu vực đầu t−
n−ớc ngoài chiếm 17% tổng vốn đầu t− xã hội, tạo ra trên 14,5% GDP của cả
n−ớc chiếm gần 37% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp và gần 54% kim
ngạch xuất khẩu (kể cả xuất khẩu dầu thô) [3, tr. 2]. T−ơng đ−ơng với số
l−ợng các dự án đầu t− đó là số l−ợng các dự án, hợp đồng thuê đất đ−ợc ký
kết giữa các cơ quan nhà n−ớc, doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp
đầu t− n−ớc ngoài, số l−ợng dự án đầu t− vào Việt Nam ngày càng tăng, quy
mô càng lớn thì đồng thời số l−ợng lớn các hợp đồng thuê đất cũng càng lớn
và diện tích đất thuê càng nhiều. Điều này đòi hỏi vai trò của nhà n−ớc trong
việc quản lý đất đai đối với đất thuê của các doanh nghiệp đầu t− n−ớc ngoài
ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn. Để phân tích một cách sâu sắc nội dung và
thực trạng quản lý nhà n−ớc về thuê đất của các doanh nghiệp đầu t− n−ớc
ngoài tại Việt Nam, tác giả chia nội dung này làm ba phần ứng với ba giai đoạn
quản lý nhà n−ớc đối với một dự án đầu t−, đó là giai đoạn thành lập, đăng ký
đầu t−; giai đoạn hoạt động kinh doanh và giai đoạn kết thúc dự án đầu t−.
2.2.1. Quản lý nhà n−ớc đối với các doanh nghiệp giai đoạn thành
lập và đăng ký đầu t−
Trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập doanh nghiệp đầu t− n−ớc ngoài tại
Việt Nam đ−ợc thực hiện theo quy định tại Luật Đầu t− n−ớc ngoài năm 1996,
sửa đổi bổ sung năm 2000, h−ớng dẫn từ Điều 104 đến Điều 111 Nghị định
24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật
Đầu t− n−ớc ngoài tại Việt Nam. Kể từ ngày 01/7/2006 thủ tục thành lập và
đăng ký đầu t− đối với doanh nghiệp đầu t− n−ớc ngoài đ−ợc thực hiện thống
nhất với doanh nghiệp đầu t− trong n−ớc theo quy định tại mục 1 về thủ tục
đầu t− theo Luật đầu t− năm 2005. Theo đó, thủ tục đăng ký đầu t−, thẩm tra
dự án đối với các loại dự án khác nhau đều phải có các nội dung trong hồ sơ
62
đăng ký đầu t− liên quan đến vấn đề đất đai đó là: phải có địa điểm thực hiện
dự án đầu t− và nhu cầu sử dụng đất của doanh nghiệp đầu t−. Điều này có
nghĩa là để có đ−ợc Giấy chứng nhận đầu t−, doanh nghi