Download miễn phí Lý thuyết kinh tế vĩ mô kể từ Keynes và những hàm ý cho tầm nhìn chính sách ở Việt Nam
Trường phái Áo có truyền thống lâu dài ở châu Âu với nhà sáng lập Carl Menger, qua các
thế hệ của Stanley Jevon, Bohm Bawerk, Wicksell và sang thế kỷ XX, trước sự bành trướng của
chủ nghĩa Keynes, đặc biệt là ý thức hệ toàn trị của Đức Quốc Xã và sau đó là của Liên Xô cũ,
truyền thống tự do Áo đã trỗi dậy mãnh liệt dưới sự dẫn dắt của von Mises, một nhà biện
thuyết lỗi lạc, và đặc biệt là người kế tục Friedrich von Hayek.
Trường phái Áo đề cao sự tự do cá nhân, các quyền cá nhân trong hoạt động kinh tế và tư
tưởng. Những đóng góp quan trọng của trường phái này là duy trì ý thức tự do cổ điển dưới
thời thịnh trịcủa những ý thức hệ tập thể và duy nhà nước trong thế kỷ XX.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-01-18-ly_thuyet_kinh_te_vi_mo_ke_tu_keynes_va_nhung_ham.324efsMAGS.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-55606/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
thành phần của tổng cầu(Y = C+I+G+NX). Tổng sản lượng không được quyết định trên cơ sở cân bằng cung-cầu thông
qua giá cả như trên một thị trường riêng lẻ, vì đối với toàn bộ nền kinh tế, điều này không tồn
tại. Trên thực tế, chỉ có sự hiện thực hóa các dự kiến chi tiêu nêu trên khiến quá trình sản xuất
diễn ra và tạo ra sản lượng thực và thu nhập thực. Đây là điểm khác biệt cốt lõi của cách phân
tích vĩ mô so với vi mô.
Hành vi của các loại chi tiêu trong bốn loại trên là khác nhau. Trong đó, chi tiêu hộ gia
đình phụ thuộc vào thu nhập kỳ vọng và mong muốn tiết kiệm của hộ; chi tiêu cho kinh
doanh phụ thuộc vào kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp, mà kế hoạch này lại phụ thuộc
vào kỳ vọng của doanh nghiệp về tương lai; chi tiêu của chính phủ phụ thuộc vào nhu cầu,
ngân sách và kế hoạch của chính phủ; trong khi chi tiêu ròng của nước ngoài phụ thuộc vào
tình trạng của nước ngoài và các điều kiện thương mại quốc tế.
Nhìn vào bốn loại chi tiêu trên, hai loại đầu tiên phụ thuộc rất nhiều vào kỳ vọng về tương
lai của chủ thể chi tiêu. Đây là một đặc điểm quan trọng đồng thời mang hàm ý sống còn
trong lý thuyết của Keynes. Đặc biệt, đối với khu vực doanh nghiệp, Keynes đưa ra khái niệm
tinh thần động vật (animal spirit), là đặc tính tâm lý của con người có những hành động tức
thời trước hoàn cảnh, không hoàn toàn thuần lý. Do đó, quyết định chi tiêu của khu vực
Phần II: Các vấn đề kinh tế và kinh doanh4
doanh nghiệp thường dao động mạnh, tùy theo các điều kiện kinh tế hiện thời. Trong các giai
đoạn khác nhau của chu kỳ kinh tế, như thời kỳ bùng nổ và suy thoái, hai loại chi tiêu trên,
đặc biệt chi tiêu của doanh nghiệp, có thể khuyếch đại khuynh hướng hiện thời vì nhiều lý do
tâm lý. Do đó, để bình ổn nền kinh tế, chính phủ cần can thiệp để tiết giảm sự khuyếch đại
này. Có một loạt các chính sách để đạt mục tiêu này.
Trường phái Hậu Keynes (Post Keynesian)
Trên thực tế, nhiều thành phần trong lý thuyết của Keynes đã dần được hình thành tự
phát trong cộng đồng kinh tế học ở châu Âu, trong đó đáng kể nhất là trong trường phái
Stockhom và một số nhà kinh tế xuất chúng được đào tạo trong truyền thống Marxist, tiêu
biểu là Michal Kalecki đến từ Ba Lan. Vai trò của Kalecki quan trọng tới mức càng ngày người
ta càng phát hiện ra nhiều phát kiến của ông, được đánh giá là đi trước Keynes khá xa. Thậm
chí, gần đây, Wray và Forstater (2008) đã coi Keynes và Kalecki là hai vị sáng lập trường phái
Keynes.
Tuy nhiên, do tri thức và ảnh hưởng bao trùm của Keynes trên nhiều mặt văn hóa và xã
hội lúc đó, chỉ duy Keynes có đủ tố chất và điều kiện để tạo dựng và phổ biến học thuyết của
ông như một hệ thống mới mà thôi.
Ngay sau khi học thuyết của ông được phổ biến vào năm 1936, đã có nhiều cuộc tranh cãi
bùng nổ. Một nhóm các nhà kinh tế học ưu tú ở Cambridge đã tập hợp xung quanh ông để tạo
thành những vị tông đồ đầu tiên, đem lý thuyết của ông phổ biến rộng rãi hơn dưới nhiều
hình thức. Những nhân vật tiêu biểu, ngoài Kalecki, phải kể đến Roy Harord, Nicholas
Kaldor, Joan Robinson, George Shackle ở Anh, Evsey Domar, Abba Lerner ở Mỹ. Có thể coi
đây là những trụ cột của phái Hậu Keynes. Còn một cách hiểu phái Hậu Keynes theo nghĩa
mới, là thế hệ những nhà kinh tế tiếp sau, chủ yếu là ở Mỹ, trong đó xuất sắc và có nhiều ảnh
hưởng nhất là Hyman Minsky and Sidney Weintraub, tiếp tục duy trì, phát triển các ý tưởng
gốc của Keynes trong cuốn Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ.
Không nên nhầm lẫn các nhà kinh tế Hậu Keynes với các nhà kinh tế tổng hợp Keynes-
Tân cổ điển và phái Keynes mới (sẽ được bàn ở phần sau). Đặc biệt, những người Hậu Keynes
kiên quyết chống lại sự tổng hợp Keynes với Tân cổ điển, chẳng hạn với khái niệm đường IS-
LM của Hicks. Theo Laidler (2006: 53), Joan Robinson đã gọi mô hình IS-LM là “bastard
Keynesianism” (đứa con hoang của chủ nghĩa Keynes).
Một phát triển đáng kể của phái Hậu Keynes gần đây phải kể tới sự nghiệp của Minsky,
khi ông đào sâu phát triển mô hình bất ổn tài chính (financial instability) dựa trên những ý
tưởng của Keynes và hệ thống tài chính, nạn đầu cơ và “tinh thần động vật” của giới doanh
nhân. Theo Minsky, hệ thống tài chính luôn có khuynh hướng phát triển nhanh và tăng tính
phức tạp hơn so với hệ thống kinh tế, cộng với những quá trình bị khuyếch đại bởi tâm lý,
khiến hệ thống tài chính thường là nguyên nhân của những cuộc khủng hoảng kinh tế lớn.
Với cuộc khủng hoảng hiện nay, lý thuyết của Minsky đã tìm thấy một sức sống mới.
Sự tổng hợp Tân cổ điển-Keynes (Neo-Keynesianism)
Đối với giới kinh tế học, sự tổng hợp Tân cổ điển-Keynes không có gì xa lạ. Bản chất của
sự tổng hợp này có thể coi là sự chấp nhận và diễn giải học thuyết Keynes thông qua ngôn
ngữ và thế giới của các nhà kinh tế tân cổ điển đương thời. Thoạt tiên việc này được thực hiện
gần như tức khắc nhờ những đóng góp của Hicks, một nhà kinh tế Tân cổ điển ở Cambridge,
Phần II: Các vấn đề kinh tế và kinh doanh 5
nhưng sau này đã nhanh chóng ngả về phía Keynes. Ngay từ năm 1937, Hicks đã đề xuất một
cách diễn giải dễ hiểu ý tưởng của Keynes trong Lý thuyết tổng quát việc làm, lãi suất và tiền tệ
dưới dạng đồ thị IS-LM. Dù cách diễn giải này đã gặp phải sự hưởng ứng từ những môn đồ
trung thành của Keynes, như ví dụ về Joan Robinson ở trên, vì đã đơn giản hóa và làm mất đi
nhiều ý tưởng quý giá ban đầu, nhưng nó có lợi thế rất lớn là sự dễ hiểu, do đó được phổ cập
rất nhanh. Một người khác có công lớn trong việc kết nối Keynes và Tân cổ điển là nhà kinh tế
lỗi lạc Paul Samuelson, với biệt tài về sư phạm và tư tưởng sắc bén.
Có thể nói tư tưởng kinh tế vĩ mô ngày nay về đại thể là sản phẩm của tư tưởng tổng hợp
Tân cổ điển-Keynes, vì nó dễ thích nghi với các thành phần khác của kinh tế học như kinh tế
học vi mô, kinh tế học phúc lợi. Sự tổng hợp Tân cổ điển-Keynes thường được hiểu ở dạng
nôm na qua hình ảnh ẩn dụ về hai bàn tay, vô hình và hữu hình, trong một nền kinh tế. Trong
nhiều trường hợp, ví dụ như ở Việt Nam, đa phần sự tiếp thu về kinh tế vĩ mô là dưới hình
thức này. Sự dễ dãi trong quan niệm về sự can thiệp như thể là một bàn tay hữu hình để bàn
tay vô hình có thể vỗ thành tiếng được, thường là chỗ dựa thô sơ nhưng vững chắc cho các
chính sách can thiệp. Các chính sách này thường không được minh định một cách rõ ràng.
Có lẽ chính sự mập mờ này đã khiến nhiều trường phái mới xuất hiện sau này, với quyết
tâm sắt thép chống lại “học thuyết Keynes,” mà thực tế có lẽ là chống lại quan niệm dễ dãi về
lý thuyết của Keynes nhiều hơn, nhằm minh định rõ hơn vai trò của các chính sách, mức độ
can thiệp của chính phủ, cũng như bản chất sâu xa của những vận động kinh tế.
Trường phái Trọng tiền
Đối thủ nổi tiếng và nặng ký nhất đối với học thuyết Keynes được công chúng bi...