Download miễn phí Đề tài Mô hình ETA và tính toán các chỉ số dông theo mô hình ETA
Mô hình khu vực hạn chế ETA do Trường đại học Belgrade và viện Khí tượng Thuỷ văn Federal-Belgrade cùng với Trung tâm Khí tượng Quốc gia Mỹ xây dựng, nó được áp dụng cho đối tượng đặc biệt là khu vực có địa hình núi. Mô hình liên tục được thay đổi thông qua các hội thảo hàng năm của các chuyên gia về mô hình trên thế giới đang sử dụng ETA. Mô hình ETA hiện nay được NCEP cải tiến trở thành một trong các mô hình số trị chạy nghiệp vụ dự báo ngắn hạn tại Mỹ. Trên thế giới có nhiều nước sử dụng như Nam Tư, Hy Lạp, Rumani, Nam Phi, Ấn Độ, Italy, các nước Nam Mỹ. Phiên bản mới nhất của mô hình ETA không thủy tĩnh được hoàn thiện và sử dụng tại Đại học Tổng hợp Hy Lạp đứng đầu là giáo s G.Kaloss.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-01-21-de_tai_mo_hinh_eta_va_tinh_toan_cac_chi_so_dong_th.6WnQyskO89.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-56314/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
chế quy mô vừa) cơ chế thúc đẩy này có thể chính là chuyển động đối lưu. Trong giai đoạn này có sự tập trung mưa hay băng (hay cả hai) trong dòng thăng phía trên mực băng kết. Nhiễu rada đầu tiên xuất hiện gần mực băng kết. ít khi thấy chớp trong giai đoạn này.2. Giai đoạn trưởng thành - đặc trưng bởi sự phát triển của cả hai dòng thăng và dòng giáng ít nhất là trong phần dưới của ổ dông. Giai đoạn này bắt đầu khi mưa bắt đầu rơi từ chân mây. Dòng thăng có thể phát triển tiếp và đạt cường độ cực đại ở phần trên mây với tốc độ vượt quá 25m/s. Vượt quá mực cân bằng dòng thăng phân kỳ và toả ra trong phần mây hình đe. tuỳ từng trường hợp vào cường độ dòng thăng đỉnh mây do chuyển động quán tính có thể xuất hiện vượt quá đỉnh mây hình đe.
Mưa được xác định bởi cỡ của hạt nước hay hạt băng, chúng có thể lớn lên và nhiều đến mức dòng thăng không giữ được chúng lơ lửng trong mây. Tuy nhiên, mưa không thể hình thành trong dòng thăng và rơi xuống đất mà là trong dòng giáng. Dòng giáng cùng với mưa xảy ra theo hai hướng: ma sát do các hạt mưa và lạnh đi của không khí chưa bão hoà do bốc hơi các hạt mây và hạt mưa. Dòng thăng và dòng giáng đạt cường độ cực đại chớp thường có tần suất lớn nhất trong suốt ổ dông, mưa mạnh nhất, cường độ nhiễu rada cực đại và đỉnh mây ở cao nhất.
3. Giai đoạn tan rã - giai đoạn trưởng thành của dông thường không kéo dài vì môi trường của loại dông này không có khả năng duy trì dòng thăng của dông hay phát triển nhanh một dòng thăng mới. Dòng giáng đi ra ở mực dưới mở rộng và cắt chân dòng thăng, cắt nguồn không khí nóng ẩm. Điều đó là do dông không di chuyển kịp front gió giật của nó và giữ không khí lớp biên nóng ẩm mà không có nguồn cung cấp ẩm và lực nổi, dòng thăng không thể duy trì và nhanh chóng giảm yếu. Mưa trong dông giảm, mặc dù mưa vẫn còn duy trì dòng giáng yếu dần. Sau đó, giai đoạn tan rã của dông được thống trị bởi dòng giáng. Các hạt mưa còn sót lại có thể bổ sung thêm những phần tử mây trong dòng giáng. Sau khi mưa tạnh phần mây hình đe còn giữ lại dấu vết của ổ mây dông sau đó cũng mất đi do quá trình thăng hoa.
1.4. Những điều kiện hình thành và phát triển của mây dông.
Một vài điều kiện cho sự phát triển của mây dông:
– Hội tụ của không khí mực thấp.
– Các đới gió thổi vào địa hình.
– Sự phân kỳ khối lượng trên cao.
– Độ đứt gió theo chiều thẳng đứng cũng là một nhân tố động lực quan trọng giúp cho sự phát triển mạnh mẽ của khối mây dông. Khi độ đứt theo chiều thẳng đứng không lớn thì mây dông thường không phát triển mạnh hay không thể thành các dông đa ổ có sắp xếp hay dông mạnh siêu ổ.
Những điều kiện phù hợp tạo thành độ bất ổn định lớn trong khí quyển thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của mây dông thường là tổ hợp phức tạp của nhiều nhân tố cùng tác động. Nếu tách biệt riêng ra từng nhân tố thì có thể xếp chúng thành hai loại: những nhân tố nhiệt lực và những nhân tố động lực. Tuy nhiên, chúng ta phải nhấn mạnh rằng, các nhân tố đó không khi nào tác động một cách độc lập và không phải lúc nào ta cũng có thể dễ dàng xếp chúng vào loại nhân tố nhiệt lực hay nhân tố động lực.
1.4.1. Những điều kiện nhiệt lực.
Trong khí quyển, nhiệt và ẩm là hai đại lượng vật lý có quan hệ mật thiết với nhau: nhiệt càng cao thì khả năng tàng trữ hơi nước trong không khí càng lớn, ngược lại không khí càng giàu hơi ẩm thì lượng nhiệt tiềm ẩn trong nó (tiềm nhiệt) càng nhiều. Tiềm nhiệt này sẽ được giải phóng khi hơi nước chuyển pha sang thể lỏng hay từ thể lỏng sang thể rắn và ngược lại. Vì vậy, khi xem xét các điều kiện nhiệt lực của khí quyển thì cả nhiệt và ẩm đều phải được xem xét đồng thời trong mối quan hệ hữu cơ với nhau vì tiềm nhiệt của nước lớn hơn nhiều so với hiển nhiệt nên không khí ẩm tàng trữ một nguồn năng lượng nhiều hơn hẳn không khí khô. Nói khác đi, ẩm bao giờ cũng có vai trò đặc biệt quan trọng trong các vấn đề nhiệt lực khí quyển.
Những điều kiện nhiệt lực thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của mây dông:
– Lớp ẩm dày trong không khí sát mặt đất: trong lớp khí quyển sát mặt đất có một lượng hơi nước cần thiết, đủ để cho độ cao mực ngưng kết (LCL) và mực đối lưu tự do (LFC) tương đối thấp. Có như vậy thì thế năng ngăn cản đối lưu (CIN) mới không lớn. Trong điều kiện nước ta, độ cao thích hợp của LCL khoảng 300 á 600 m, của LFC khoảng 1000 á 1800 m, trên bề mặt lúc 7h sáng Td ³ 200C, e ³ 15g/kg.
– Lớp ẩm phải có bề dày cần thiết, đảm bảo một trữ lượng hơi nước với tiềm nhiệt đủ lớn cho quá trình phát triển của mây dông. Thông thường, bề dày lớp ẩm cần thiết là 500 á 1000 m hay tốt hơn là 1000 á 1500 m. Khi mây dông hình thành và phát triển, lớp ẩm tầng thấp dày sẽ bảo đảm cho dòng siết cuốn hút không khí nóng ẩm vào đám mây dông được mạnh mẽ và liên tục. Như vậy, dòng thăng trong mây dông mới được nuôi dưỡng để phát triển không ngừng và duy trì bền vững. Nói cách khác, tiềm nhiệt của lớp ẩm tầng thấp này chính là nguồn năng lượng chủ yếu để khối mây dông có thể hình thành. Cần nhớ rằng, lớp ẩm chủ yếu phải nằm trong khí quyển tầng thấp. Nếu các lớp khí quyển cao hơn mà ẩm hơn khí quyển tầng thấp thì đối lưu ban đầu dù có thể được hình thành vì một nguyên nhân nào đó rồi cũng sẽ không thể duy trì và phát triển được. Bởi vì như chúng ta đã biết, không khí ẩm thăng lên đoạn nhiệt, nhiệt độ của nó sẽ giảm ít hơn so với không khí khô gd < gw.
– Lớp ổn định ngăn chặn nằm trên lớp ẩm mực thấp có tác dụng tạo sự ổn định ban đầu, ngăn cản sự phát tán của hơi nước lên các lớp trên cao. Đó là lớp khí quyển có tầng kết ổn định ẩm. Nếu lớp ngăn chặn yếu dễ bị phá vỡ thì hơi ẩm chưa tích luỹ được đủ đã bị phá tan dần lên các tầng cao.
– Tầng kết của khí quyển phải đảm bảo độ bất ổn định ẩm gd < g < gw tồn tại một lớp dày, từ bên trên mực LFC, để cho giá trị của thế năng gây đối lưu CAPE luôn dương và đủ lớn, thúc đẩy dòng thăng phát triển tới độ cao lớn.
1.4.2. Những điều kiện động lực.
Những nguyên nhân động lực được tạo ra do kết quả chuyển động của không khí. Các nguyên nhân động lực tác động đến quá trình hình thành và phát triển của mây dông thông qua ảnh hưởng của nó tới chuyển động thăng giáng trong đám mây dông và tới việc làm thay đổi điều kiện nhiệt ẩm liên quan đến hoạt động của dông.
1.5. Sử dụng chỉ số bất ổn định của khí quyển để dự báo dông.
Khả năng đối lưu của môi trường có thể được biểu diễn bằng số đơn trị được gọi là chỉ số bất ổn định. Chỉ tiêu bất ổn định của khí quyển có thể được dùng để dự báo dông. Một số chỉ số dự báo dông được xác định bằng cách dùng tổ hợp các đại trưng T, Td, q, qe , qw , r , v.v... tại các mực áp suất khác nhau. Xây dựng các chỉ số và tổ hợp các chỉ số để dự báo dông mang lại kết quả dự báo cao, các chỉ số có thể ...