Đề tài Một số định hướng và giải pháp để nâng cao vai trò điều tiết tiền tệ của ngân hàng trung ương
Trước hết, đánh giá một cách sơ bộ có thể thấy rằng mặc dù thị trường tiền tệ của Việt Nam chưa thực sự phát triển nhưng các bộ phận cấu thành của nó cũng đã hình thành ở một mức độ nhất định. Trước tiên phải kể đến thị trường nội tệ và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, nơi thực hiện việc điều tiết vốn ngắn hạn bằng VND và ngoại tệ còn bao gồm hoạt động cho vay của NHNN dưới các hình thức: tái cấp vốn, tái chiết khấu.; hoạt động thị trường mở, nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ nhằm mục đích điều tiết, cung ứng vốn khả dụng ngắn hạn cho các ngân hàng; hoạt động mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-11-15-de_tai_mot_so_dinh_huong_va_giai_phap_de_nang_cao.bI5ayRYqHw.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-45623/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Ngiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ NHTW mua và bán các loại chứng khoán có giá, mà chủ yếu là tín phiếu kho bạc nhà nước, nhằm duy trì lượng tiền cung ứng mục đích chính là tác động vào thị trường tiền tệ. Ngân hàmg trung ương mua bán các chứng khoán trên thị trường tiền tệ sẽ làm thay đổi cơ số tiền tệ( tiền đang lưu hành trong hệ thống ngân hàng và ngoài hệ thống ngân hàng). Đó là nguồn gốc chính gây nên sự biến độngtrong cung ứng tiền tệ.
a. Khi ngân hàng trung ương mua chững khoán trên thị trường tiền tệ, làm tăng cơ số tiền tệ, qua đó làm tăng lượng tiền cung ứng ng mua chứng
b. Khi ngân hàng trung ương bán chứng khoán, thu hẹp cơ số tiền tệ, qua đó giảm lượng tiền cung ứng.
Thị trường mở là công cụ quan trọng nhất của ngân hàng trung ương trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng.Ngân hàng trung ương có thể kiểm soát được hoàn toàn lượng nghiệp vụ thị trường tự do linh hoạt, chính xác, có thể được sử dụng ở bất cứ mức độ nào, điều chỉnh một lượng tiền cung ứng lớn hay nhỏ bằng cách mua hay bán 1 lượng lớn hay nhỏ chứng khoán để phù hợp với lượng dự trữ lớn hay nhỏ. Ngân hàng trung ương có thể dễ dàng đảo ngược lại tình thế của mình, nếu Ngân hàng trung ương mắc sai sót có thể sửa chữa ngay lập tức. Ví dụ, khi Ngân hàng trung ương nhận thấy lãi suất trên thi trường tiền tệ hiện đang quá thấp do vừa qua ngân hàng trung ương thực hiện mua quá nhiều trên thị trường mở, thì có thể ngay tức khắc sửa chữa nó bằng cách bán ngay các giấy tờ có giá cho ngân hàng.
Công cụ chính sách chiết khấu Ngân hàng trung ương cho các ngân hàng kinh doanh vay tiền, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng. Khi ngân hàng trung ương nâng lãi suất tái chiết khấu, tức làm cho giá của khoản vay tăng, hạn chế cho các ngân hàng kinh doanh vay, làm cho khả năng cho vay vốn đối với nền kinh tế của ngân hàng kinh doanh giảm xuống, lượng tiền cung ứng giảm xuống. Ngược lại, khi ngân hàng trung ương giảm lãi suất cho vay tái chiết khấu, giá của khoản vay rẻ hơn khuyến khích cho vay các ngân hàng kinh doanh, làm cho khả năng hco vay của ngân hàng kinh doanh tăng lên, lượng tiền cung ứng tăng lên. Chính sách tái chiết khấu không chỉ điều tiết lượng tiền cung ứng, mà còn thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng với các tổ chức tín dụng và tác động đến việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư với nền kinh tế. Bằng cách giảm hay tăng mức cầm cố hay tỉ lệ chiết khấu Ngân hàng trung ương tác động vào việc bảo đảm tiền tệ cho hệ thống kinh tế. Thông thường mức cầm cố cao hơn mức chiết khấu là 1% trong các trường hợp ngoại lệ có thể tăng từ 0,5% lên 2%.Ví dụ tháng 3/1989 do nhịp độ phát triển kinh tế nhanh để kìm bớt tốc độ NHTW Đức nâng mức chiết khấu và mức này đạt kỉ lục 7,5% vào tháng 3/1980. Đến giữa năm 1981 do tăng trưởng kinh tế bị chậm lại lẽ ra phải giảm mạnh mức chiết khấu, song điều này đã không diễn ra vì từ năm 1979 việc Mỹ áp dụng chính sách lãi suất cao đã có ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ, vốn Tây Âu. Chỉ tới giữa năm 1982, khi mức lãi suất ở Mỹ giảm mạnh, việc giảm mức chiết khấu của Đức mới được thực hiện. ở Mỹ để duy trì tỷ giá đô la và chống lạm phát mạnh, NHTW Mỹ nâng mức chiết khấu lên tới 14%. Các ngân hàng thương mại phản ứng tình hình trên bằng cách nâng lãi suất lên tới 20% và cao hơn.
Dự trữ bắt buộc là một trong ba công cụ của chính sách tiền tệ. Đó là số tiền bắt buộc mà các tổ chức tín dụng phải giữ lại mà không được cho vay hay đầu tư. Mức dự trữ này do NHTW qui định và tỉ lệ nhất định so với tổng tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng. Dự trữ bắt buộc tác động đến cơ chế tạo tiền gửi của các ngân hàng thương mại vì tác động đến lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại từ đó ảnh hưởngđến lượng tiền cung ứng của ngân hàng thương mại với nền kinh tế. Ví dụ ở thời điểm nhất định, với mức dự trữ tối thiểu trung bình là 8% tiền gửi, thì trong tay ngân hàng thương mại còn lại 92%, trong khi đó họ phải trả lãi theo giá trị toàn bộ 100% số tiền gửi của khách hàng. Nếu NHTW năng mức dự trữ tối thiểu lên 10% lúc đó ngân hàng chỉ còn được sử dụng 84% tiền gửi của bạn hàng, nhưng họ vẫn phải trả lãi 100% tiền gửi như trước đây. Sức mạnh tác động của NHTW với các ngân hàng thương mại nhờ nâng mức dự trữ tối thiểu sẽ gây ra việc nâng lãi suất cho vay lên cao.
Tuy nhiên, hiện nay dự trữ bắt buộc đóng vai trò kém quan trọng trong chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương vì kém linh hoạt, phức tạp ảnh hưởng tới lợi nhuận của các ngân hàng.
Thực tế đã chứng minh vai trò quan trọng của ngân hàng trung ương các nước trong quá trình sử dụng chính sách tiền tệ để tác động đến thị truường tiền tệ, vị trí và vai trò của ngân hàng trung ương đã được đề cập đến trong hệ thống luật pháp của các nước:
Theo qui định tại “Luật về ngân hàng liên bang đức”, Ngân hàng liên bang Đức có nhiệm vụ “điều tiết hoạt động lưu thông tiền tệ và cung ứng tín dụng cho nền kinh tế với mục đích ổn định tièn tệ trong đối nội, đối ngoại và đảm nhận nhiệm vụ ngân hàng đối với hoạt động thanh toán trong ước và nước ngoà”. Ngân hàng Pháp có nhiệm vụ “ Thiết lập và thực hiện chính sách tiền tệ với mục đích đảm bảo sự ổn định giá cả, có trách nhiệm ban hành các chính sách tiền tệ và kiểm soát sự thay đổi về cung ứng tiền tệ, các nhân tố kéo theo sau cung ứng tiền tệ. Hệ thống dự trữ Liên bang Mỹ (FED): Có quyền xác định chính sách tiền tệ và sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: nghiệp vụ thị trương mở, dựu trữ bắt buộc và lãi suất chiết khấu. FED đã tác động rất lớn đến thị trương tiền tệvà góp phần vào sự tăng trưởn kinh tế. Ví dụ: trong thập kỉ vừa qua, FED đã góp phần vực dậy nền kinh tế Mỹ từ cuộc khủng hoảng nặng nề bằng việc giảm láI suất ( Từ 9,8% năm 1989 xuống còn 2,9% năm 1993) mf không can thiệp vào cơ chế thị trường xác định tỉ giá đồng USD ( Thực tế từ 5/1989 đến 9/1992, đồng USD bị phá giá 17%). Trong các năm 1993-1995, FED đã năng lãi suất từ 3% lên 6%, sau đó đồng USD đã phục hồi vị trí của mình trên các thị ngoại hối thế giới. Vào đầu năm 1995 khi sức ép lạm phát đã giảm, FED đã cắt giamr lãi suất để thúc đẩy...
Download miễn phí Đề tài Một số định hướng và giải pháp để nâng cao vai trò điều tiết tiền tệ của ngân hàng trung ương
Trước hết, đánh giá một cách sơ bộ có thể thấy rằng mặc dù thị trường tiền tệ của Việt Nam chưa thực sự phát triển nhưng các bộ phận cấu thành của nó cũng đã hình thành ở một mức độ nhất định. Trước tiên phải kể đến thị trường nội tệ và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, nơi thực hiện việc điều tiết vốn ngắn hạn bằng VND và ngoại tệ còn bao gồm hoạt động cho vay của NHNN dưới các hình thức: tái cấp vốn, tái chiết khấu.; hoạt động thị trường mở, nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ nhằm mục đích điều tiết, cung ứng vốn khả dụng ngắn hạn cho các ngân hàng; hoạt động mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-11-15-de_tai_mot_so_dinh_huong_va_giai_phap_de_nang_cao.bI5ayRYqHw.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-45623/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
hàng trung ương lại xuất hiện với tư cách là người cac thiệp chủ yếu: thực hiện đưa tiền ra, rút tiền vào, điều chỉnh lãi suất, dự trữ bắt buộc... Ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường tiền tệ thông qua chính sách tiền tệ - đó là một bộ phận cấu thành quan trọng trong tổng thể các chính sách kinh tế vĩ mô có tác động mạnh mẽ và hết sức nhạy cảm với toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Thông qua việc định hướng và điều chỉnh kịp thời mọi hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, chính sách tiền tệ luôn duy trì sự ổn định của hệ thống tiền tệ, kiểm soát lạm phát và góp phần bảo đảm sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế. Chính sách tiền tệ thường sử dụng các công cụ chính:Ngiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ NHTW mua và bán các loại chứng khoán có giá, mà chủ yếu là tín phiếu kho bạc nhà nước, nhằm duy trì lượng tiền cung ứng mục đích chính là tác động vào thị trường tiền tệ. Ngân hàmg trung ương mua bán các chứng khoán trên thị trường tiền tệ sẽ làm thay đổi cơ số tiền tệ( tiền đang lưu hành trong hệ thống ngân hàng và ngoài hệ thống ngân hàng). Đó là nguồn gốc chính gây nên sự biến độngtrong cung ứng tiền tệ.
a. Khi ngân hàng trung ương mua chững khoán trên thị trường tiền tệ, làm tăng cơ số tiền tệ, qua đó làm tăng lượng tiền cung ứng ng mua chứng
b. Khi ngân hàng trung ương bán chứng khoán, thu hẹp cơ số tiền tệ, qua đó giảm lượng tiền cung ứng.
Thị trường mở là công cụ quan trọng nhất của ngân hàng trung ương trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng.Ngân hàng trung ương có thể kiểm soát được hoàn toàn lượng nghiệp vụ thị trường tự do linh hoạt, chính xác, có thể được sử dụng ở bất cứ mức độ nào, điều chỉnh một lượng tiền cung ứng lớn hay nhỏ bằng cách mua hay bán 1 lượng lớn hay nhỏ chứng khoán để phù hợp với lượng dự trữ lớn hay nhỏ. Ngân hàng trung ương có thể dễ dàng đảo ngược lại tình thế của mình, nếu Ngân hàng trung ương mắc sai sót có thể sửa chữa ngay lập tức. Ví dụ, khi Ngân hàng trung ương nhận thấy lãi suất trên thi trường tiền tệ hiện đang quá thấp do vừa qua ngân hàng trung ương thực hiện mua quá nhiều trên thị trường mở, thì có thể ngay tức khắc sửa chữa nó bằng cách bán ngay các giấy tờ có giá cho ngân hàng.
Công cụ chính sách chiết khấu Ngân hàng trung ương cho các ngân hàng kinh doanh vay tiền, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng. Khi ngân hàng trung ương nâng lãi suất tái chiết khấu, tức làm cho giá của khoản vay tăng, hạn chế cho các ngân hàng kinh doanh vay, làm cho khả năng cho vay vốn đối với nền kinh tế của ngân hàng kinh doanh giảm xuống, lượng tiền cung ứng giảm xuống. Ngược lại, khi ngân hàng trung ương giảm lãi suất cho vay tái chiết khấu, giá của khoản vay rẻ hơn khuyến khích cho vay các ngân hàng kinh doanh, làm cho khả năng hco vay của ngân hàng kinh doanh tăng lên, lượng tiền cung ứng tăng lên. Chính sách tái chiết khấu không chỉ điều tiết lượng tiền cung ứng, mà còn thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng với các tổ chức tín dụng và tác động đến việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư với nền kinh tế. Bằng cách giảm hay tăng mức cầm cố hay tỉ lệ chiết khấu Ngân hàng trung ương tác động vào việc bảo đảm tiền tệ cho hệ thống kinh tế. Thông thường mức cầm cố cao hơn mức chiết khấu là 1% trong các trường hợp ngoại lệ có thể tăng từ 0,5% lên 2%.Ví dụ tháng 3/1989 do nhịp độ phát triển kinh tế nhanh để kìm bớt tốc độ NHTW Đức nâng mức chiết khấu và mức này đạt kỉ lục 7,5% vào tháng 3/1980. Đến giữa năm 1981 do tăng trưởng kinh tế bị chậm lại lẽ ra phải giảm mạnh mức chiết khấu, song điều này đã không diễn ra vì từ năm 1979 việc Mỹ áp dụng chính sách lãi suất cao đã có ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ, vốn Tây Âu. Chỉ tới giữa năm 1982, khi mức lãi suất ở Mỹ giảm mạnh, việc giảm mức chiết khấu của Đức mới được thực hiện. ở Mỹ để duy trì tỷ giá đô la và chống lạm phát mạnh, NHTW Mỹ nâng mức chiết khấu lên tới 14%. Các ngân hàng thương mại phản ứng tình hình trên bằng cách nâng lãi suất lên tới 20% và cao hơn.
Dự trữ bắt buộc là một trong ba công cụ của chính sách tiền tệ. Đó là số tiền bắt buộc mà các tổ chức tín dụng phải giữ lại mà không được cho vay hay đầu tư. Mức dự trữ này do NHTW qui định và tỉ lệ nhất định so với tổng tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng. Dự trữ bắt buộc tác động đến cơ chế tạo tiền gửi của các ngân hàng thương mại vì tác động đến lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại từ đó ảnh hưởngđến lượng tiền cung ứng của ngân hàng thương mại với nền kinh tế. Ví dụ ở thời điểm nhất định, với mức dự trữ tối thiểu trung bình là 8% tiền gửi, thì trong tay ngân hàng thương mại còn lại 92%, trong khi đó họ phải trả lãi theo giá trị toàn bộ 100% số tiền gửi của khách hàng. Nếu NHTW năng mức dự trữ tối thiểu lên 10% lúc đó ngân hàng chỉ còn được sử dụng 84% tiền gửi của bạn hàng, nhưng họ vẫn phải trả lãi 100% tiền gửi như trước đây. Sức mạnh tác động của NHTW với các ngân hàng thương mại nhờ nâng mức dự trữ tối thiểu sẽ gây ra việc nâng lãi suất cho vay lên cao.
Tuy nhiên, hiện nay dự trữ bắt buộc đóng vai trò kém quan trọng trong chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương vì kém linh hoạt, phức tạp ảnh hưởng tới lợi nhuận của các ngân hàng.
Thực tế đã chứng minh vai trò quan trọng của ngân hàng trung ương các nước trong quá trình sử dụng chính sách tiền tệ để tác động đến thị truường tiền tệ, vị trí và vai trò của ngân hàng trung ương đã được đề cập đến trong hệ thống luật pháp của các nước:
Theo qui định tại “Luật về ngân hàng liên bang đức”, Ngân hàng liên bang Đức có nhiệm vụ “điều tiết hoạt động lưu thông tiền tệ và cung ứng tín dụng cho nền kinh tế với mục đích ổn định tièn tệ trong đối nội, đối ngoại và đảm nhận nhiệm vụ ngân hàng đối với hoạt động thanh toán trong ước và nước ngoà”. Ngân hàng Pháp có nhiệm vụ “ Thiết lập và thực hiện chính sách tiền tệ với mục đích đảm bảo sự ổn định giá cả, có trách nhiệm ban hành các chính sách tiền tệ và kiểm soát sự thay đổi về cung ứng tiền tệ, các nhân tố kéo theo sau cung ứng tiền tệ. Hệ thống dự trữ Liên bang Mỹ (FED): Có quyền xác định chính sách tiền tệ và sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: nghiệp vụ thị trương mở, dựu trữ bắt buộc và lãi suất chiết khấu. FED đã tác động rất lớn đến thị trương tiền tệvà góp phần vào sự tăng trưởn kinh tế. Ví dụ: trong thập kỉ vừa qua, FED đã góp phần vực dậy nền kinh tế Mỹ từ cuộc khủng hoảng nặng nề bằng việc giảm láI suất ( Từ 9,8% năm 1989 xuống còn 2,9% năm 1993) mf không can thiệp vào cơ chế thị trường xác định tỉ giá đồng USD ( Thực tế từ 5/1989 đến 9/1992, đồng USD bị phá giá 17%). Trong các năm 1993-1995, FED đã năng lãi suất từ 3% lên 6%, sau đó đồng USD đã phục hồi vị trí của mình trên các thị ngoại hối thế giới. Vào đầu năm 1995 khi sức ép lạm phát đã giảm, FED đã cắt giamr lãi suất để thúc đẩy...