huynhhaloan
New Member
Download Đề tài Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chi tiêu Ngân Sách Nhà Nước
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 2
1. Khái niệm ngân sách nhà nước 2
2. Bản chất của Ngân sách nhà nước nền kinh tế thị trường 3
3. Hệ thống Ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước 4
3.1. Hệ thống Ngân sách nhà nước 4
3.2. Phân cấp quản lý NSNN 6
4. Những nội dung thu chi của ngân sách nước ta 7
4.1 Thu NSNN 7
4.2. Chi NSNN 7
4.2.1 Nội dung chủ yếu của chi Ngân sách nhà nước 8
4.2.2.Vai trò của chi Ngân sách nhà nước 8
4.2.3 Quản lý chi Ngân sách nhà nước 10
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CỦA CHI TIÊU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 12
1. Thực trạng chung 12
2. Những kết quả đạt được 12
3.Những khó khăn tồn tại 17
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHI TIÊU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 25
KẾT LUẬN 26
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-11-02-de_tai_mot_so_giai_phap_nham_nang_cao_hieu_qua_chi.p6JhCqgsJt.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-43185/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của bộ máy Nhà nước, lực lượng quân đội, công an, sự phát triển của các hoạt động xã hội, y tế, văn hoá có ý nghĩa quyết định. Việc thực hiện các nhiệm vụ này về cơ bản thuộc về nhà nước và không vì mục tiêu lợi nhuận. Việc sử dụng các dịch vụ kể trên được phân chia giữa những người tiêu dùng, nhưng nguồn tài trợ để thực hiện các nhiệm vụ đó lại được cấp phát từ Ngân sách nhà nước. Như vậy, trong việc thực hiện những nhiệm vụ có tính chất chung cho toàn xã hội, Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng hàng đầu. Bên cạnh đó, cùng với việc thực hiện các nhiệm vụ có tính chất chung cho toàn xã hội, hàng năm chính phủ vẫn có sự chú ý đặc biệt cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp nhất. Chúng ta có thể nhận thấy điều đó thông qua các loại trợ giúp trực tiếp được giành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội; các loài trợ giúp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu (lương thực, điện, nước…), các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, các chương trình quốc gia lớn về chống mù chữ, chống dịch bệnh, các chi phí cho việc cung cấp hàng hoá khuyến dụng, hàng hóa công cộng….Tuy rằng mọi tầng lớp dân cư đều được hưởng dịch vụ này, nhưng hiện nay ở nước ta, tỷ lệ người cùng kiệt còn chiếm phần lớn trong dân cư nên phần được hưởng của người cùng kiệt cũng lớn hơn.
* Góp phần ổn định thị trường, giá cả, chống lạm phát (điều chỉnh trong lĩnh vực thị trường)
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, sự đơn điệu về chế độ sở hữu, bó khung trong hai hình thức quốc doanh và tập thể đã dẫn đến sự phát triển yếu ớt của các quan hệ thị trường. Bệnh cạnh đó, cơ chế chỉ huy (bằng các mệnh lệnh hành chính) với việc nhà nước quyết định giá cả của các hàng hoá, dịch vụ, chỉ định nơi cung cấp vật tư, tiêu thụ sản phẩm…cũng đã làm cho các quan hệ thị trường kém phát triển. Trong cơ chế đó, sự vận động của giá cả, chi phí thoát ly quan hệ cung – cầu của thị trường, sự vận động của chúng được che dấu bởi sự bao cấp của Nhà nước.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, giá cả chủ yếu phụ thuộc vào quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường. Do đó để ổn định giá cả, chính phủ có thể tác động vào cung hay cầu hàng hoá trên thị trường. Sự tác động này không chỉ được thực hiện thông qua thuế mà còn được thực hiện thông qua chính sách chi tiêu của Ngân sách nhà nước. Bằng nguồn vốn cấp phát của chi tiêu Ngân sách nhà nước hàng năm, các quỹ dự trữ Nhà nước về hàng hoá tài chính được hình thành. Trong trường hợp thị trường có nhiều biến động, giá cả lên có cao hay xuống quá thấp, nhờ lực lượng dự trữ hàng hoá và tiền, chính phủ có thể điều hoà cung - cầu hàng hoá, vật tư để bình ổn giá cả trên thị trường, bảo vệ quyền lời người tiêu dùng và ổn định sản xuất. Chính phủ cũng có thể sử dụng ngân sách Nhà nước nhằm khống chế và đẩy lùi nạn lạm phát một cách có hiệu quả thông qua việc thực hiện chính sách thắt chặt ngân sách, nghĩa là cắt giảm các khoản chi tiêu ngân sách, chống tình trạng bao cấp lãng phí trong chi tiêu.
4.2.3 Quản lý chi Ngân sách nhà nước.
Quản lý Nhà nước đối với chi Ngân sách nhà nước là quá trình tác động của Nhà nước đến Ngân sách nhà nước, nhằm làm cho hoạt động của Ngân sách nhà nước một mặt theo đúng pháp luật nhà nước, mặt khác kích thích kinh tế phát triển, đảm bảo tính hiệu quả của các khoản chi, giảm bớt bội chi ngân sách.
Trong quản lý Nhà nước đối với chi ngân sách nhà nước, Nhà nước vừa là cửu sở hữu Ngân sách nhà nước vừa là chủ thể quản lý Ngân sách nhà nước mà trực tiếp là các quan hệ các bộ phận của ngân sách là đối tượng, khách thể quản lý. Chi ngân sách nhà nước được quản lý theo Luật Ngân sách và chế độ kế hoạch hoá ngân sách.
Các nguyên tắc quản lý chi Ngân sách nhà nước :
- Nguyên tắc tập trung thống nhất. Cả quốc gia chỉ có một Ngân sách nhà nước thống nhất theo Luật Ngân sách nhà nước. Sự thống nhất đó thể hiện bằng pháp luật, bằng chính sách, chế độ và bằng kế hoạch ngân sách hàng năm. Quốc hội quy định, sửa đổi và bãi bỏ các khoản chi của ngân sách. Chính phủ quy định thẩm quyền ban hành và nguyên tắc quản lý các loại phí và các khoản thu ngoài thuế khác, kể cả việc huy động và sử dụng tiền đóng góp của dân.
- Tính trung thực của Ngân sách nhà nước: Phản ánh các khoản chi của Ngân sách nhà nước đã diễn ra trong thực tế là đúng sự thật khách quan. Các dự toán, quyết toán phải được kiểm tra, thẩm định nghiêm túc theo một trình tự chặt chẽ, không cho phép các cơ quan hành chính tự ý làm điều sai trái mà cơ quan lập pháp đã quyết định Ngân sách nhà nước.
- Tính công khai: các khoản chi của Ngân sách nhà nước và ngân sách địa phương được Quốc hội và Hội đồng nhân dân thảo luận và biểu quyết công khai, khi được quyết định phải được công bố công khai cho nhân dân biết. Tính công khai của Ngân sách nhà nước nói chung và chi ngân sách nói riêng là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra”.
- Tính cân bằng của ngân sách nhà nước: Các khoản chi tiêu của Ngân sách nhà nước phải được thực hiện trên cơ sở cân bằng thu chi Ngân sách nhà nước nghĩa là cân bằng giữa cung cầu vốn tiền tệ của nhà nước trong năm; cân bằng cung cầu vốn Ngân sách nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng chi phối cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế; bội chi Ngân sách nhà nước là một trong các nguyên nhân gây lạm phát.
- Đảm bảo quỹ dự trữ tài chính: Chi ngân sách nhà nước phải trên cơ sở đảm bảo quỹ dự trữ tài chính của nhà nước, đây là vấn đề có tính chiến lược, đảm bảo sử dụng ổn định tài chính và chủ động trong điều hành ngân sách nhà nước. Quỹ này không mất đi, mà tăng hàng năm
- Đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu kinh tế xã hội: kế hoạch chi tiêu của ngân sách nhà nước phải phản ánh và phục vụ đúng mục tiêu kinh tế – xã hội, hướng hoạt động Ngân sách nhà nước theo yêu cầu mục tiêu kinh tế – xã hội
- Tính kỷ cương heo pháp luật: Vấn đề chi tiêu của Ngân sách nhà nước phải chấp hành nghiêm túc luật Ngân sách nhà nước, các văn bản pháp quy của Nhà nước, bảo đảm trật tự kỷ cương trong quản lý tài chính đất nước
Chương 2. Thực trạng của chi tiêu Ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay
1. Thực trạng chung
Trong thời kỳ nền kinh tế
Download miễn phí Đề tài Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chi tiêu Ngân Sách Nhà Nước
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 2
1. Khái niệm ngân sách nhà nước 2
2. Bản chất của Ngân sách nhà nước nền kinh tế thị trường 3
3. Hệ thống Ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước 4
3.1. Hệ thống Ngân sách nhà nước 4
3.2. Phân cấp quản lý NSNN 6
4. Những nội dung thu chi của ngân sách nước ta 7
4.1 Thu NSNN 7
4.2. Chi NSNN 7
4.2.1 Nội dung chủ yếu của chi Ngân sách nhà nước 8
4.2.2.Vai trò của chi Ngân sách nhà nước 8
4.2.3 Quản lý chi Ngân sách nhà nước 10
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CỦA CHI TIÊU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 12
1. Thực trạng chung 12
2. Những kết quả đạt được 12
3.Những khó khăn tồn tại 17
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHI TIÊU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 25
KẾT LUẬN 26
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-11-02-de_tai_mot_so_giai_phap_nham_nang_cao_hieu_qua_chi.p6JhCqgsJt.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-43185/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
biên chế nhà nước, tâm lý trông chờ ỷ lại vào Nhà nước. Điều đó một mặt làm giảm công tác, hiệu quả tiền vốn. Mặt khác vừa tác động ngược chiều đến việc bảo đảm công bằng xã hội. Bên cạnh đó sự bao cấp tràn lan cho các hoạt động có tính chất xã hội (các hoạt động sự nghiệp), song lại thiếu sự tính toán hợp lý về phạm vi, mức độ hiệu quả của nó cũng dẫn đến những hạn chế trong việc thực hiện các mục tiêu về mặt xã hội.Trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của bộ máy Nhà nước, lực lượng quân đội, công an, sự phát triển của các hoạt động xã hội, y tế, văn hoá có ý nghĩa quyết định. Việc thực hiện các nhiệm vụ này về cơ bản thuộc về nhà nước và không vì mục tiêu lợi nhuận. Việc sử dụng các dịch vụ kể trên được phân chia giữa những người tiêu dùng, nhưng nguồn tài trợ để thực hiện các nhiệm vụ đó lại được cấp phát từ Ngân sách nhà nước. Như vậy, trong việc thực hiện những nhiệm vụ có tính chất chung cho toàn xã hội, Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng hàng đầu. Bên cạnh đó, cùng với việc thực hiện các nhiệm vụ có tính chất chung cho toàn xã hội, hàng năm chính phủ vẫn có sự chú ý đặc biệt cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp nhất. Chúng ta có thể nhận thấy điều đó thông qua các loại trợ giúp trực tiếp được giành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội; các loài trợ giúp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu (lương thực, điện, nước…), các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, các chương trình quốc gia lớn về chống mù chữ, chống dịch bệnh, các chi phí cho việc cung cấp hàng hoá khuyến dụng, hàng hóa công cộng….Tuy rằng mọi tầng lớp dân cư đều được hưởng dịch vụ này, nhưng hiện nay ở nước ta, tỷ lệ người cùng kiệt còn chiếm phần lớn trong dân cư nên phần được hưởng của người cùng kiệt cũng lớn hơn.
* Góp phần ổn định thị trường, giá cả, chống lạm phát (điều chỉnh trong lĩnh vực thị trường)
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, sự đơn điệu về chế độ sở hữu, bó khung trong hai hình thức quốc doanh và tập thể đã dẫn đến sự phát triển yếu ớt của các quan hệ thị trường. Bệnh cạnh đó, cơ chế chỉ huy (bằng các mệnh lệnh hành chính) với việc nhà nước quyết định giá cả của các hàng hoá, dịch vụ, chỉ định nơi cung cấp vật tư, tiêu thụ sản phẩm…cũng đã làm cho các quan hệ thị trường kém phát triển. Trong cơ chế đó, sự vận động của giá cả, chi phí thoát ly quan hệ cung – cầu của thị trường, sự vận động của chúng được che dấu bởi sự bao cấp của Nhà nước.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, giá cả chủ yếu phụ thuộc vào quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường. Do đó để ổn định giá cả, chính phủ có thể tác động vào cung hay cầu hàng hoá trên thị trường. Sự tác động này không chỉ được thực hiện thông qua thuế mà còn được thực hiện thông qua chính sách chi tiêu của Ngân sách nhà nước. Bằng nguồn vốn cấp phát của chi tiêu Ngân sách nhà nước hàng năm, các quỹ dự trữ Nhà nước về hàng hoá tài chính được hình thành. Trong trường hợp thị trường có nhiều biến động, giá cả lên có cao hay xuống quá thấp, nhờ lực lượng dự trữ hàng hoá và tiền, chính phủ có thể điều hoà cung - cầu hàng hoá, vật tư để bình ổn giá cả trên thị trường, bảo vệ quyền lời người tiêu dùng và ổn định sản xuất. Chính phủ cũng có thể sử dụng ngân sách Nhà nước nhằm khống chế và đẩy lùi nạn lạm phát một cách có hiệu quả thông qua việc thực hiện chính sách thắt chặt ngân sách, nghĩa là cắt giảm các khoản chi tiêu ngân sách, chống tình trạng bao cấp lãng phí trong chi tiêu.
4.2.3 Quản lý chi Ngân sách nhà nước.
Quản lý Nhà nước đối với chi Ngân sách nhà nước là quá trình tác động của Nhà nước đến Ngân sách nhà nước, nhằm làm cho hoạt động của Ngân sách nhà nước một mặt theo đúng pháp luật nhà nước, mặt khác kích thích kinh tế phát triển, đảm bảo tính hiệu quả của các khoản chi, giảm bớt bội chi ngân sách.
Trong quản lý Nhà nước đối với chi ngân sách nhà nước, Nhà nước vừa là cửu sở hữu Ngân sách nhà nước vừa là chủ thể quản lý Ngân sách nhà nước mà trực tiếp là các quan hệ các bộ phận của ngân sách là đối tượng, khách thể quản lý. Chi ngân sách nhà nước được quản lý theo Luật Ngân sách và chế độ kế hoạch hoá ngân sách.
Các nguyên tắc quản lý chi Ngân sách nhà nước :
- Nguyên tắc tập trung thống nhất. Cả quốc gia chỉ có một Ngân sách nhà nước thống nhất theo Luật Ngân sách nhà nước. Sự thống nhất đó thể hiện bằng pháp luật, bằng chính sách, chế độ và bằng kế hoạch ngân sách hàng năm. Quốc hội quy định, sửa đổi và bãi bỏ các khoản chi của ngân sách. Chính phủ quy định thẩm quyền ban hành và nguyên tắc quản lý các loại phí và các khoản thu ngoài thuế khác, kể cả việc huy động và sử dụng tiền đóng góp của dân.
- Tính trung thực của Ngân sách nhà nước: Phản ánh các khoản chi của Ngân sách nhà nước đã diễn ra trong thực tế là đúng sự thật khách quan. Các dự toán, quyết toán phải được kiểm tra, thẩm định nghiêm túc theo một trình tự chặt chẽ, không cho phép các cơ quan hành chính tự ý làm điều sai trái mà cơ quan lập pháp đã quyết định Ngân sách nhà nước.
- Tính công khai: các khoản chi của Ngân sách nhà nước và ngân sách địa phương được Quốc hội và Hội đồng nhân dân thảo luận và biểu quyết công khai, khi được quyết định phải được công bố công khai cho nhân dân biết. Tính công khai của Ngân sách nhà nước nói chung và chi ngân sách nói riêng là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra”.
- Tính cân bằng của ngân sách nhà nước: Các khoản chi tiêu của Ngân sách nhà nước phải được thực hiện trên cơ sở cân bằng thu chi Ngân sách nhà nước nghĩa là cân bằng giữa cung cầu vốn tiền tệ của nhà nước trong năm; cân bằng cung cầu vốn Ngân sách nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng chi phối cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế; bội chi Ngân sách nhà nước là một trong các nguyên nhân gây lạm phát.
- Đảm bảo quỹ dự trữ tài chính: Chi ngân sách nhà nước phải trên cơ sở đảm bảo quỹ dự trữ tài chính của nhà nước, đây là vấn đề có tính chiến lược, đảm bảo sử dụng ổn định tài chính và chủ động trong điều hành ngân sách nhà nước. Quỹ này không mất đi, mà tăng hàng năm
- Đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu kinh tế xã hội: kế hoạch chi tiêu của ngân sách nhà nước phải phản ánh và phục vụ đúng mục tiêu kinh tế – xã hội, hướng hoạt động Ngân sách nhà nước theo yêu cầu mục tiêu kinh tế – xã hội
- Tính kỷ cương heo pháp luật: Vấn đề chi tiêu của Ngân sách nhà nước phải chấp hành nghiêm túc luật Ngân sách nhà nước, các văn bản pháp quy của Nhà nước, bảo đảm trật tự kỷ cương trong quản lý tài chính đất nước
Chương 2. Thực trạng của chi tiêu Ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay
1. Thực trạng chung
Trong thời kỳ nền kinh tế
Tags: giải pháp nhằm nâng cao vai trò của ngân sách nhà nước, Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu - chi ngân sách nhà nước, sáng kiến biện pháp quản lý các khoản thu chi Ngân sách và ngoài Ngân sách có hiệu quả trong trường Mầm non., giải pháp hiệu quả ngân sách nhà nước, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách nhà nước cấp xã, sáng kiến kinh nghiệm nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách nhà nước, Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động thu, chi các khoản vận động tài trợ, đề tài sáng kiến kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân sách nhà nước