bubu_mylove_1991
New Member
Download Luận văn Một số giải pháp thúc đẩy thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển
Trong giai đoạn 2000-2010, công tác quản lý Nhà nước và điều hành TTCK
được thực hiện tương đối linh hoạt, bảo đảm TTCK vận hành an toàn và phát triển
ổn định, không để xảy ra đổ vỡ, xáo trộn lớn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế –
xã hội của đất nước, từng bước nâng cao năng lực giám sát và cưỡng chế thực thi
quy định của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Hoạt động
quản lý và giám sát TTCK với trọng tâm lấy việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư là
nòng cốt; các chính sách quản lý TTCK đã thể hiện mục tiêu tăng cường tính công
khai, minh bạch, từng bước áp dụng các thông lệ về quản trị công ty tốt, các chuẩn
mực về kế toán, kiểm toán quốc tế và khuyến cáo của Tổ chức quốc tế các UBCK
(IOSCO).
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-24-luan_van_mot_so_giai_phap_thuc_day_thi_truong_chun.zuJ1mCcWNV.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-42125/
Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
chúng.
2.2.2.2.b.Tồn tại nhiều hàng hóa kém chất lƣợng do điều kiện niêm yết còn thấp
Với điều kiện niêm yết quá thấp đã dẫn đến việc tồn tài nhiều hàng hóa kém
chất lượng trên sàn. Nhiều doanh nghiệp có vốn điều lệ rất lớn vài trăm cho đến cả
nghìn tỷ đồng nhưng lợi nhuận chỉ vỏn vẹn có vài tỷ đồng. Thậm chí có những
doanh nghiệp sau khi niêm yết đã lổ liên tục 2, 3 năm như VTA, VKP, FPC, BBT
buộc phải ngưng hay hạn chế giao dịch.
Một số doanh nghiệp có vốn điều lệ quá nhỏ từ 10 đến 30 tỷ đồng. Nhưng
hầu hết số lượng cổ phiếu đều nằm trong ty cổ đông nội bộ. Số lượng cổ phiếu lưu
hành bên ngoài còn lại rất ít. Vì vậy những cổ phiếu này thường là thanh khoản rất
thấp ít được nhà đầu tư quan tâm hay là sẽ bị thao túng làm giá để phục vụ cho
một nhóm đối tượng nào đó.
Một số công ty đại chúng được sự tư vấn của một số CTCK đã tiến hành
thổi giá cổ phiếu với những hình thức như vẽ ra triển vọng của doanh nghiệp, tô
hồng sự thật và hạn chế công bố những mặt tồn tại trong hoạt động của DN. Các
trường hợp này sau đó thường rớt thê thảm hay thanh khoản ở mức thấp thấp chỉ
vài nghìn cổ phiếu trong phiên giao dịch.
Nhiều đợt phát hành cổ phiếu với giá cổ phiếu “trên trời” hay thực tế việc
sử dụng vốn huy động không đúng hay không đạt kết quả như trong bản cáo bạch
đã làm mất lòng tin của các nhà đầu tư.
2.2.2.2.c.Tiến trình cổ phần hóa DNNN bị ngừng trệ
Từ đầu năm 2008 đến gần thời điểm hiện tại, TTCK liên tục sụt giảm, trước
tình hình này các cơ quan quản lý nhà nước có chủ trương giảm nguồn cung hàng
hoá từ việc phát hành cổ phiếu ra công chúng cũng như giãn tiến độ cổ phần hoá
các DNNN.
Có nhiều ý kiến cho rằng nếu tiếp tục IPO ồ ạt các cổ phiếu các DNNN
thì chẳng những ảnh hưởng đến sự ổn định của TTCK mà còn làm giảm thu lớn
33
ngân sách nhà nước từ việc bán tài sản.
Tuy nhiên đến thời điểm nào mới tiếp tục tiến trình cổ phần hoá DNNN? Và
rằng nếu tiếp tục tiến trình cổ phần hóa DNNN theo cách làm cũ thì lại ảnh hưởng
đến sự hồi phục của TTCK?
Sự chậm trễ trong việc cổ phần hoá DNNN, nhất là với đối tượng là tổng
công ty nhà nước, DNNN qui mô vốn lớn sẽ tiếp tục gây ra những tác động tiêu cực
sau :
- Tiếp tục kéo dài cơ chế quan liêu bao cấp, cơ chế xin cho, cơ chế
can thiệp hành chính từ cơ quan chủ quản…làm việc sử dụng vốn nhà nước không
đạt được hiệu quả cao, thậm chí mất vốn nhà nước…
- Không tạo được cơ chế sử dụng và thu hút người tài, không giải quyết
được cơ bản cơ chế tiền lương, tiền thưởng theo cơ chế thị trường. Những DNNN
qui mô vốn lớn sẽ bị mất dần thương hiệu, mất dần giá trị vô hình khi nhân lực
chủ chốt trong DNNN chuyển dịch sang khu vực tư nhân.
- Đại bộ phận DNNN hiện nay chưa có cơ chế bắt buộc trong công
khai minh bạch tình hình tài chính như các công ty đại chúng, công ty niêm yết,
vì vậy tình trạng tiêu cực, tham nhũng tồn tại trong 1 bộ phận DNNN.
- Nếu càng chậm trễ cổ phần hoá DNNN thì DNNN càng mất sức
cạnh tranh bấy nhiêu và đến khi cổ phần hoá thì giá trị doanh nghiệp sẽ bị giảm đi
nhiều, điều đó đồng nghĩa với việc tài sản nhà nước bị thất thoát .
Từ sự phân tích trên, vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay là làm thế nào để
tiếp tục đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá DNNN mà không làm ảnh hưởng đến sự
hồi phục của TTCK cũng như không làm giảm nguồn thu từ việc bán phần vốn nhà
nước.
2.2.2.2.d.Nguồn vốn huy động từ TTCK chƣa đƣợc sử dụng đúng mục đích
Mặc dù trong tình cảnh nền kinh tế toàn cầu gặp khó khăn, song Việt Nam
vẫn là nơi thu hút một dòng vốn lớn và có xu hướng ngày càng tăng. Tuy nhiên,
những dòng vốn này dường như đang “chảy” chưa đúng đích.
Hiện tại tất cả các nguồn vốn được đầu tư của thị trường Việt Nam đang
ở các thị trường chính đó là: TTCK, vàng, ngoại tệ và bất động sản.
34
Khi TTCK phát triển nóng, nguồn vốn trong và ngoài nước được huy
động để đưa vào thị trường là một con số khổng lồ, nhưng rõ ràng, chỉ có thặng dư
vốn từ lần phát hành đầu tiên của doanh nghiệp niêm yết mới là nguồn vốn khả
dụng để đưa vào đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Rõ ràng hơn nữa: chỉ có những cổ phiếu phát hành đúng thời điểm thị
trường đang "bùng nổ" thì thặng dư vốn mới là con số thật sự đáng kể so với thị giá.
Tuy nhiên, nguồn thặng dư vốn ấy lại được các công ty niêm yết năng động nhìn
ra được những khoản lợi nhuận lớn và nhanh chóng thu được từ thị trường
tài chính nên không kể gì đến việc đầu tư trái ngành nghề vốn vẫn được gọi với
cụm từ đầu tư đa ngành nhằm phân tán rủi ro, các công ty sản xuất vẫn tiếp tục
đầu tư tài chính nhằm thu lợi nhuận để đầu tư cho ngành nghề chính. Như vậy,
dòng tiền thặng dư ấy lại tiếp tục đẩy vào thị trường tài chính mà vẫn không được
đưa vào đầu tư cho sản xuất.
Sau cơn chấn động với TTCK, các nhà đầu tư khôn ngoan đã rút chân ra
sớm và cắt lỗ kịp thời, và dòng tiền chảy sang thị trường bất động sản.
Giá bất động sản được đẩy lên còn hơn diều gặp gió. Theo quy luật, đến
khi thị trường bất động sản không còn là mảnh đất màu mỡ để đồng tiền sinh sôi
nảy nở nữa thì dòng tiền lại kéo nhau ra khỏi lĩnh vực này. Và dòng tiền tiếp theo
lại đổ vào vàng. Nhưng các nhà đầu tư không phải mua vàng để tích trữ mà là để
"lướt sóng" nhằm thu chênh lệch giá. Khi các qui chế của sàn giao dịch vàng còn
chưa định hình với một số lượng rất ít sàn giao dịch, các nhà đầu tư không khác gì
đang "đánh bạc" với rủi ro.
Hướng khác dòng tiền chảy vào đầu cơ ngoại tệ, gạo, muối, sắt thép, xi
măng... tất cả các loại hàng hóa có thể đầu cơ được.
Không đầu cơ thì gửi Ngân hàng để hưởng mức lãi suất ngất ngưởng.
Cũng chính mức lãi suất huy động cao ngất ngưởng đã đẩy lãi suất cho vay lên
khiến các doanh nghiệp sản xuất gặp nhiều khó khăn về vốn, sản xuất kinh doanh
lâm vào tình trạng thu bị thu hẹp, hoạt động cầm chừng, giữ chân khách hàng và cố
gắng tồn tại.
Nếu giải quyết được tình trạng này, TTCK mới có thể vượt qua khó khăn
35
và phát triển mạnh mẽ, ổn định trong thời gian tới.
2.2.2.3.Chất lƣợng trong hoạt động TTCK còn nhiều hạn chế
2.2.2.3.a.Chất lƣợng dịch vụ của các công ty chứng khoán chƣa đáp ứng đƣợc
yêu cầu của thị trƣờng
* Số lượng công ty chứng khoán quá lớn so với thị trường nhỏ dẫn đến nhiều sự
cạnh tranh không lành mạnh:
Con số 105 công ty chứng khoán hiện nay là quá lớn so với quy mô thị
trường. Với giá trị giao dịch trung bình mỗi ngày trong năm 2010 là 2.500 tỷ đồng,
tổng phí giao dịch bình quân mà một công ty chứng khoán không nằm trong top 10
là 5 tỷ đồng/năm. Số tiền này thực tế không đủ để duy trì hoạt động của công ty, nên
không mong đợi...
Download miễn phí Luận văn Một số giải pháp thúc đẩy thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển
Trong giai đoạn 2000-2010, công tác quản lý Nhà nước và điều hành TTCK
được thực hiện tương đối linh hoạt, bảo đảm TTCK vận hành an toàn và phát triển
ổn định, không để xảy ra đổ vỡ, xáo trộn lớn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế –
xã hội của đất nước, từng bước nâng cao năng lực giám sát và cưỡng chế thực thi
quy định của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Hoạt động
quản lý và giám sát TTCK với trọng tâm lấy việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư là
nòng cốt; các chính sách quản lý TTCK đã thể hiện mục tiêu tăng cường tính công
khai, minh bạch, từng bước áp dụng các thông lệ về quản trị công ty tốt, các chuẩn
mực về kế toán, kiểm toán quốc tế và khuyến cáo của Tổ chức quốc tế các UBCK
(IOSCO).
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-24-luan_van_mot_so_giai_phap_thuc_day_thi_truong_chun.zuJ1mCcWNV.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-42125/
Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung:
bảo chất lượng của các đợt phát hành cổ phiếu ra côngchúng.
2.2.2.2.b.Tồn tại nhiều hàng hóa kém chất lƣợng do điều kiện niêm yết còn thấp
Với điều kiện niêm yết quá thấp đã dẫn đến việc tồn tài nhiều hàng hóa kém
chất lượng trên sàn. Nhiều doanh nghiệp có vốn điều lệ rất lớn vài trăm cho đến cả
nghìn tỷ đồng nhưng lợi nhuận chỉ vỏn vẹn có vài tỷ đồng. Thậm chí có những
doanh nghiệp sau khi niêm yết đã lổ liên tục 2, 3 năm như VTA, VKP, FPC, BBT
buộc phải ngưng hay hạn chế giao dịch.
Một số doanh nghiệp có vốn điều lệ quá nhỏ từ 10 đến 30 tỷ đồng. Nhưng
hầu hết số lượng cổ phiếu đều nằm trong ty cổ đông nội bộ. Số lượng cổ phiếu lưu
hành bên ngoài còn lại rất ít. Vì vậy những cổ phiếu này thường là thanh khoản rất
thấp ít được nhà đầu tư quan tâm hay là sẽ bị thao túng làm giá để phục vụ cho
một nhóm đối tượng nào đó.
Một số công ty đại chúng được sự tư vấn của một số CTCK đã tiến hành
thổi giá cổ phiếu với những hình thức như vẽ ra triển vọng của doanh nghiệp, tô
hồng sự thật và hạn chế công bố những mặt tồn tại trong hoạt động của DN. Các
trường hợp này sau đó thường rớt thê thảm hay thanh khoản ở mức thấp thấp chỉ
vài nghìn cổ phiếu trong phiên giao dịch.
Nhiều đợt phát hành cổ phiếu với giá cổ phiếu “trên trời” hay thực tế việc
sử dụng vốn huy động không đúng hay không đạt kết quả như trong bản cáo bạch
đã làm mất lòng tin của các nhà đầu tư.
2.2.2.2.c.Tiến trình cổ phần hóa DNNN bị ngừng trệ
Từ đầu năm 2008 đến gần thời điểm hiện tại, TTCK liên tục sụt giảm, trước
tình hình này các cơ quan quản lý nhà nước có chủ trương giảm nguồn cung hàng
hoá từ việc phát hành cổ phiếu ra công chúng cũng như giãn tiến độ cổ phần hoá
các DNNN.
Có nhiều ý kiến cho rằng nếu tiếp tục IPO ồ ạt các cổ phiếu các DNNN
thì chẳng những ảnh hưởng đến sự ổn định của TTCK mà còn làm giảm thu lớn
33
ngân sách nhà nước từ việc bán tài sản.
Tuy nhiên đến thời điểm nào mới tiếp tục tiến trình cổ phần hoá DNNN? Và
rằng nếu tiếp tục tiến trình cổ phần hóa DNNN theo cách làm cũ thì lại ảnh hưởng
đến sự hồi phục của TTCK?
Sự chậm trễ trong việc cổ phần hoá DNNN, nhất là với đối tượng là tổng
công ty nhà nước, DNNN qui mô vốn lớn sẽ tiếp tục gây ra những tác động tiêu cực
sau :
- Tiếp tục kéo dài cơ chế quan liêu bao cấp, cơ chế xin cho, cơ chế
can thiệp hành chính từ cơ quan chủ quản…làm việc sử dụng vốn nhà nước không
đạt được hiệu quả cao, thậm chí mất vốn nhà nước…
- Không tạo được cơ chế sử dụng và thu hút người tài, không giải quyết
được cơ bản cơ chế tiền lương, tiền thưởng theo cơ chế thị trường. Những DNNN
qui mô vốn lớn sẽ bị mất dần thương hiệu, mất dần giá trị vô hình khi nhân lực
chủ chốt trong DNNN chuyển dịch sang khu vực tư nhân.
- Đại bộ phận DNNN hiện nay chưa có cơ chế bắt buộc trong công
khai minh bạch tình hình tài chính như các công ty đại chúng, công ty niêm yết,
vì vậy tình trạng tiêu cực, tham nhũng tồn tại trong 1 bộ phận DNNN.
- Nếu càng chậm trễ cổ phần hoá DNNN thì DNNN càng mất sức
cạnh tranh bấy nhiêu và đến khi cổ phần hoá thì giá trị doanh nghiệp sẽ bị giảm đi
nhiều, điều đó đồng nghĩa với việc tài sản nhà nước bị thất thoát .
Từ sự phân tích trên, vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay là làm thế nào để
tiếp tục đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá DNNN mà không làm ảnh hưởng đến sự
hồi phục của TTCK cũng như không làm giảm nguồn thu từ việc bán phần vốn nhà
nước.
2.2.2.2.d.Nguồn vốn huy động từ TTCK chƣa đƣợc sử dụng đúng mục đích
Mặc dù trong tình cảnh nền kinh tế toàn cầu gặp khó khăn, song Việt Nam
vẫn là nơi thu hút một dòng vốn lớn và có xu hướng ngày càng tăng. Tuy nhiên,
những dòng vốn này dường như đang “chảy” chưa đúng đích.
Hiện tại tất cả các nguồn vốn được đầu tư của thị trường Việt Nam đang
ở các thị trường chính đó là: TTCK, vàng, ngoại tệ và bất động sản.
34
Khi TTCK phát triển nóng, nguồn vốn trong và ngoài nước được huy
động để đưa vào thị trường là một con số khổng lồ, nhưng rõ ràng, chỉ có thặng dư
vốn từ lần phát hành đầu tiên của doanh nghiệp niêm yết mới là nguồn vốn khả
dụng để đưa vào đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Rõ ràng hơn nữa: chỉ có những cổ phiếu phát hành đúng thời điểm thị
trường đang "bùng nổ" thì thặng dư vốn mới là con số thật sự đáng kể so với thị giá.
Tuy nhiên, nguồn thặng dư vốn ấy lại được các công ty niêm yết năng động nhìn
ra được những khoản lợi nhuận lớn và nhanh chóng thu được từ thị trường
tài chính nên không kể gì đến việc đầu tư trái ngành nghề vốn vẫn được gọi với
cụm từ đầu tư đa ngành nhằm phân tán rủi ro, các công ty sản xuất vẫn tiếp tục
đầu tư tài chính nhằm thu lợi nhuận để đầu tư cho ngành nghề chính. Như vậy,
dòng tiền thặng dư ấy lại tiếp tục đẩy vào thị trường tài chính mà vẫn không được
đưa vào đầu tư cho sản xuất.
Sau cơn chấn động với TTCK, các nhà đầu tư khôn ngoan đã rút chân ra
sớm và cắt lỗ kịp thời, và dòng tiền chảy sang thị trường bất động sản.
Giá bất động sản được đẩy lên còn hơn diều gặp gió. Theo quy luật, đến
khi thị trường bất động sản không còn là mảnh đất màu mỡ để đồng tiền sinh sôi
nảy nở nữa thì dòng tiền lại kéo nhau ra khỏi lĩnh vực này. Và dòng tiền tiếp theo
lại đổ vào vàng. Nhưng các nhà đầu tư không phải mua vàng để tích trữ mà là để
"lướt sóng" nhằm thu chênh lệch giá. Khi các qui chế của sàn giao dịch vàng còn
chưa định hình với một số lượng rất ít sàn giao dịch, các nhà đầu tư không khác gì
đang "đánh bạc" với rủi ro.
Hướng khác dòng tiền chảy vào đầu cơ ngoại tệ, gạo, muối, sắt thép, xi
măng... tất cả các loại hàng hóa có thể đầu cơ được.
Không đầu cơ thì gửi Ngân hàng để hưởng mức lãi suất ngất ngưởng.
Cũng chính mức lãi suất huy động cao ngất ngưởng đã đẩy lãi suất cho vay lên
khiến các doanh nghiệp sản xuất gặp nhiều khó khăn về vốn, sản xuất kinh doanh
lâm vào tình trạng thu bị thu hẹp, hoạt động cầm chừng, giữ chân khách hàng và cố
gắng tồn tại.
Nếu giải quyết được tình trạng này, TTCK mới có thể vượt qua khó khăn
35
và phát triển mạnh mẽ, ổn định trong thời gian tới.
2.2.2.3.Chất lƣợng trong hoạt động TTCK còn nhiều hạn chế
2.2.2.3.a.Chất lƣợng dịch vụ của các công ty chứng khoán chƣa đáp ứng đƣợc
yêu cầu của thị trƣờng
* Số lượng công ty chứng khoán quá lớn so với thị trường nhỏ dẫn đến nhiều sự
cạnh tranh không lành mạnh:
Con số 105 công ty chứng khoán hiện nay là quá lớn so với quy mô thị
trường. Với giá trị giao dịch trung bình mỗi ngày trong năm 2010 là 2.500 tỷ đồng,
tổng phí giao dịch bình quân mà một công ty chứng khoán không nằm trong top 10
là 5 tỷ đồng/năm. Số tiền này thực tế không đủ để duy trì hoạt động của công ty, nên
không mong đợi...