bobotinhnghich
New Member
Chia sẻ miễn phí cho các bạn tài liệu: Nghiên cứu Rối loạn thái dương hàm
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn thái dương hàm (Temporomandibular Disorder) hay còn gọi là hội chứng đau - loạn năng hệ thống nhai (SADAM) hay hội chứng Costen là một nhóm các rối loạn của khớp thái dương hàm, hệ thống các cơ nhai và các cấu trúc liên quan mà biểu hiện là triệu chứng đau, hạn chế há ngậm miệng và tiếng kêu khớp thái dương hàm [1]. Rối loạn thái dương hàm ngày càng trở thành một vấn đề được chú ý ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Trong một hai thập niên trở lại đây, các nghiên cứu cho thấy rối loạn thái dương hàm (RLTDH) chiếm tỉ lệ khá cao trong cộng đồng. Theo tác giả Keith, Scrivani (2008) tỷ lệ RLTDH vào khoảng 10 - 25% dân số, trong đó ở Mỹ có tới 22% dân số có ít nhất một trong những triệu chứng của rối loạn thái dương hàm [2]. Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Hồ Thị Ngọc Linh (2003) trên 1020 công nhân dệt Phong Phú cho thấy số người có biểu hiện RLTDH lên tới 60,5% [3].
Biểu hiện lâm sàng của rối loạn thái dương hàm rất phong phú, thay đổi ở từng bệnh nhân. Cơ chế bệnh sinh còn nhiều điểm chưa sáng tỏ, đặc biệt phương pháp điều trị rối loạn thái dương hàm đa dạng, thiếu thống nhất giữa các bạn sỹ lâm sàng. Trong các phương pháp điều trị rối loạn thái dương hàm, máng nhai (Occlusal splint) là phương pháp được nhiều nha sĩ áp dụng. Máng nhai ổn định (Stabilization Splint) ra đời năm 1966 là loại máng nhai đã được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới [1]. Khi bệnh nhân đeo máng, lồi cầu được đặt ở vị trí ổn định nhất và tạo khớp cắn tối ưu cho bệnh nhân[1]. Máng nhai ổn định có ưu điểm là hiệu quả cao, chi phí thấp và là phương pháp điều trị bảo tồn, không có biến chứng. Tuy nhiên, hiệu quả điều trị của máng nhai ổn định trong điều trị rối loạn thái dương hàm vẫn là một vấn đề đang gây tranh cãi. Một số nghiên cứu đưa ra kết luận 80% bệnh nhân có hiệu quả thực sự khi điều trị bằng máng nhai [4]. Một số nghiên cứu khác lại khẳng định: máng nhai chỉ có tác dụng như một giả dược [5]. Ở Việt Nam, máng nhai đã được sử dụng trong điều trị rối loạn thái dương hàm, tuy nhiên việc chỉ định, cách chế tạo, quy trình điều trị thiếu thống nhất giữa các nha sỹ và hiệu quả điều trị của máng nhai chưa được đánh giá chính xác. Vì vậy, chúng tui đã thực hiện đề tài với các mục tiêu sau:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, X-quang của bệnh nhân rối loạn thái dương hàm được điều trị bằng máng nhai ổn định.
2. Đánh giá hiệu quả của máng nhai ổn định trong điều trị rối loạn thái dương hàm.
Dành riêng cho anh em Ketnooi, bác nào cần download miễn phí bản đầy đủ thì trả lời topic này, Nhóm Mods sẽ gửi tài liệu cho bạn qua hòm tin nhắn nhé.
- Bạn nào có tài liệu gì hay thì up lên đây chia sẻ cùng anh em.
- Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở forum, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn thái dương hàm (Temporomandibular Disorder) hay còn gọi là hội chứng đau - loạn năng hệ thống nhai (SADAM) hay hội chứng Costen là một nhóm các rối loạn của khớp thái dương hàm, hệ thống các cơ nhai và các cấu trúc liên quan mà biểu hiện là triệu chứng đau, hạn chế há ngậm miệng và tiếng kêu khớp thái dương hàm [1]. Rối loạn thái dương hàm ngày càng trở thành một vấn đề được chú ý ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Trong một hai thập niên trở lại đây, các nghiên cứu cho thấy rối loạn thái dương hàm (RLTDH) chiếm tỉ lệ khá cao trong cộng đồng. Theo tác giả Keith, Scrivani (2008) tỷ lệ RLTDH vào khoảng 10 - 25% dân số, trong đó ở Mỹ có tới 22% dân số có ít nhất một trong những triệu chứng của rối loạn thái dương hàm [2]. Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Hồ Thị Ngọc Linh (2003) trên 1020 công nhân dệt Phong Phú cho thấy số người có biểu hiện RLTDH lên tới 60,5% [3].
Biểu hiện lâm sàng của rối loạn thái dương hàm rất phong phú, thay đổi ở từng bệnh nhân. Cơ chế bệnh sinh còn nhiều điểm chưa sáng tỏ, đặc biệt phương pháp điều trị rối loạn thái dương hàm đa dạng, thiếu thống nhất giữa các bạn sỹ lâm sàng. Trong các phương pháp điều trị rối loạn thái dương hàm, máng nhai (Occlusal splint) là phương pháp được nhiều nha sĩ áp dụng. Máng nhai ổn định (Stabilization Splint) ra đời năm 1966 là loại máng nhai đã được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới [1]. Khi bệnh nhân đeo máng, lồi cầu được đặt ở vị trí ổn định nhất và tạo khớp cắn tối ưu cho bệnh nhân[1]. Máng nhai ổn định có ưu điểm là hiệu quả cao, chi phí thấp và là phương pháp điều trị bảo tồn, không có biến chứng. Tuy nhiên, hiệu quả điều trị của máng nhai ổn định trong điều trị rối loạn thái dương hàm vẫn là một vấn đề đang gây tranh cãi. Một số nghiên cứu đưa ra kết luận 80% bệnh nhân có hiệu quả thực sự khi điều trị bằng máng nhai [4]. Một số nghiên cứu khác lại khẳng định: máng nhai chỉ có tác dụng như một giả dược [5]. Ở Việt Nam, máng nhai đã được sử dụng trong điều trị rối loạn thái dương hàm, tuy nhiên việc chỉ định, cách chế tạo, quy trình điều trị thiếu thống nhất giữa các nha sỹ và hiệu quả điều trị của máng nhai chưa được đánh giá chính xác. Vì vậy, chúng tui đã thực hiện đề tài với các mục tiêu sau:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, X-quang của bệnh nhân rối loạn thái dương hàm được điều trị bằng máng nhai ổn định.
2. Đánh giá hiệu quả của máng nhai ổn định trong điều trị rối loạn thái dương hàm.
Dành riêng cho anh em Ketnooi, bác nào cần download miễn phí bản đầy đủ thì trả lời topic này, Nhóm Mods sẽ gửi tài liệu cho bạn qua hòm tin nhắn nhé.
- Bạn nào có tài liệu gì hay thì up lên đây chia sẻ cùng anh em.
- Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở forum, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí