ke_da_tinh_050
New Member
Download Luận văn Những yếu tố tác động đến tự đánh giá của sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh
- Vềtự đánh giá năng lực; giữa sinh viên các năm học thì chỉcó sinh viên năm thứ
nhất và sinh viên năm thứtưlà có sựkhác biệt ý nghĩa, trong đó, sinh viên năm thứtư(ĐTB
= 25.79) tự đánh giá năng lực cao hơn sinh viên năm thứnhất (ĐTB =23.65). Giữa sinh viên
năm thứhai và năm thứtư, cũng nhưsinh viên năm thứnhất và sinh viên năm hai không có
sựkhác biệt trong tự đánh giá vềmặt năng lực.
- Tự đánh giá vềmặt phẩm chất; cũng giống nhưtự đánh giá vềnăng lực, chỉcó sinh
viên năm thứnhất và sinh viên năm thứtưlà có sựkhác biệt trong tự đánh giá vềphẩm
chất, tuy nhiên sinh viên năm thứnhất (ĐTB = 131.85) lại tự đánh giá vềphẩm chất cao hơn
sinh viên năm thứtư(ĐTB =127.12).
- Vềmặt tự đánh giá đạo đức, chỉcó sựkhác biệt trong đánh giá giữa sinh viên năm
thứnhất và sinh viên năm thứhai. Trong đó, sinh viên năm thứnhất (ĐTB = 21.75) tự đánh
giá về đạo đức cao hơn sinh viên năm thứhai (ĐTB =20.73). Giữa sinh viên năm thứhai và
năm thứtư, sinh viên năm thứnhất và sinh viên năm tưkhông có sựkhác biệt trong tự đánh
giá vềmặt đạo đức.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-22-luan_van_nhung_yeu_to_tac_dong_den_tu_danh_gia_cua.oDvOdptPUx.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-41634/
Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
chất” và tiểu thang đo về “đạo đức” là có sự khác biệt về tự đánh giá giữa sinh viên các
trường. Các tiểu thang đo trên đây đều có mức ý nghĩa nhỏ hơn P < 0.05. Các tiểu thang đo
“Khá năng giải quyết vấn đề”, “Trách nhiệm”, “Gia đình”, “Ganh đua trong học tập”,
“Sự thích nghi”, “Ngoại hình”, “Sự hài lòng bản thân”, và “Hoạt động xã hội” đều không
có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê trong tự đánh giá giữa sinh viên các trường.
Để biết rõ hơn trong từng tiểu thang đo sinh viên giữa các trường có sự khác biệt với
nhau, chúng ta dùng thêm phần hậu kiểm Tukey trong phần kết quả sau:
Bảng 2.2.16: Hậu kiểm Tukey của sinh viên các trường về tự đánh giá bản thân
Tự đánh giá Trường ĐTB khác biệt P.
So sánh điểm TB
của các trường
VĂN HIẾN SƯ PHẠM 1.92(*) .001Năng lực
KINH TẾ SƯ PHẠM 1.98(*) .001
Sư Phạm < Văn
Hiến< Kinh Tế
Đạo đức VĂN HIẾN KINH TẾ 1.00(*) .030 Kinh Tế< Văn Hiến
Phẩm chất VĂN HIẾN KINH TẾ 4.60(*) .007 Kinh Tế< Văn Hiến
Khá năng
giao tiếp VĂN HIẾN SƯ PHẠM 1.22(*) .028
Sư Phạm < Kinh
Tế< Văn Hiến
Tự đánh giá
chung VĂN HIẾN KINH TẾ 11.26(*) .048
Văn Hiến
Phạm
Ghi chú: Trung bình khác biệt có ý nghĩa (*) khi P < 0.05
- Theo kết quả bảng 2.2.16, về tiểu thang đo “tự đánh giá về năng lực” thì giữa sinh viên
Sư Phạm và sinh viên Văn Hiến có sự khác biệt, trong đó sinh viên Văn Hiến (ĐTB =
24.73) đánh giá cao hơn Sư Phạm (ĐTB =22.81) và sinh viên trường Kinh Tế và sinh viên
trường Sư Phạm cũng có sự tự đánh giá về năng lực khác nhau, sinh viên trường Kinh Tế
(ĐTB = 24.79) tự đánh giá cao hơn sinh viên trường Sư Phạm (ĐTB = 22.81), cuối cùng,
sinh viên hai trường Văn Hiến và Kinh Tế không có sự khác nhau trong việc tự đánh giá về
mặt năng lực.
- Về tiểu thang đo tự đánh giá về khả năng giao tiếp; giữa sinh viên Sư Phạm và sinh viên
Văn Hiến có sự khác biệt, trong đó sinh viên Văn Hiến (ĐTB = 20.22) tự đánh giá cao hơn
Sư Phạm (ĐTB =19.00), sinh viên hai trường Văn Hiến và Kinh Tế không có sự khác nhau
trong việc tự đánh giá về mặt khả năng giao tiếp, và sinh viên trường Kinh Tế và sinh viên
trường Sư Phạm cũng không có sự khác biệt trong việc tự đánh giá về mặt giao tiếp.
- Tiểu thang đo tự đánh giá về những phẩm chất; Chỉ có sinh viên của hai trường Văn Hiến
và Kinh Tế là có sự khác biệt trong tự đánh giá về những phẩm chất, giữa hai trường này thì
sinh viên Văn Hiến (ĐTB = 133.55) tự đánh giá cao hơn sinh viên trường Kinh Tế (ĐTB
=128.95), còn các mối quan hệ giữa sinh viên trường Kinh Tế và Sư Phạm, sinh viên Sư
Phạm và sinh viên trường Văn Hiến không có sự khác biệt trong tự đánh giá về mặt phẩm
chất.
- Về tiểu thang đo tự đánh giá về mặt đạo đức; Sinh viên hai trường Sư Phạm và Kinh Tế là
có sự khác biệt trong tự đánh giá về những phẩm chất, giữa hai trường này thì sinh viên
trường Sư Phạm (ĐTB = 21.87) tự đánh giá cao hơn sinh viên trường Kinh Tế (ĐTB
=20.88), giữa sinh viên trường Kinh Tế và Văn Hiến không có sự khác biệt trong tự đánh
giá về mặt đạo đức, và sinh viên hai trường Văn Hiến và Sư Phạm cũng không có sự khác
biệt trong tự đánh giá về mặt đạo đức.
- Về tự đánh giá chung về bản thân thì kết quả cho thấy chỉ có sự khác nhau trong tự đánh
giá giữa sinh viên hai trường Kinh Tế và Văn Hiến. Trong đó, sinh viên Văn Hiến (ĐTB =
417986) tự đánh giá bản thân cao hơn sinh viên trường Kinh Tế (ĐTB = 406.719). Giữa
sinh viên trường Kinh Tế và Sư Phạm không có sự khác biệt trong tự đánh giá bản thân,
tương tự, sinh viên trường Sư Phạm và sinh viên trường Văn Hiến cũng không có sự khác
biệt trong tự đánh giá bản thân.
2.2.2.3. So sánh về tự đánh giá bản thân giữa sinh viên các năm
Bảng 2.2.17 dưới đây cho thấy, kết quả nghiên cứu từ mười hai tiểu thang đo về tự
đánh giá bản thân cho thấy có ba tiểu thang đo tự đánh giá bản thân về mặt “năng lực”,
“phẩm chất” và “đạo đức” là có sự khác biệt trong tự đánh bản thân giá giữa sinh viên của
các năm học. Trong từng tiểu thang đo cụ thể, sinh viên các năm học có sự khác nhau trong
tự đánh giá bản thân như thế nào, chúng ta sẽ xét qua phần hậu kiểm Tukey.
Bảng2.2.17: Biến lượng so sánh sinh viên các năm học về tự đánh giá bản thân
Năm 1 Năm 2 Năm 4 Năm học
Tự đánh giá ĐTB ĐLTC ĐTB ĐLTC ĐTB ĐLTC F P.
Năng lực 23.65 3.470 24.35 3.117 25.79 3.170 5.688 0.004
Khá năng giao
tiếp 19.50 3.005 19.39 3.040 20.06 2.384 0.595 0.553
Khá năng giải
quyết vấn đề 12.73 1.958 12.41 1.899 12.45 1.938 0.667 0.514
Phẩm chất 131.85 9.605 130.08 8.797 127.12 9.591 3.581 0.029
Đạo đức 21.75 2.468 20.73 2.417 20.88 2.522 4.188 0.016
Trách nhiệm 51.37 5.419 49.61 5.146 50.03 5.271 2.478 0.086
Gia đình 11.50 1.729 11.00 1.612 11.33 1.671 1.661 0.192
Ganh đua trong
học tập 54.59 4.876 53.55 4.388 54.91 5.015 1.111 0.331
Sự thích nghi 30.37 5.045 29.92 3.994 29.06 3.674 1.101 0.334
Ngoại hình 12.02 2.547 12.24 2.055 12.64 2.247 0.923 0.399
Sự hài lòng bản
thân 34.13 4.435 34.69 3.870 34.48 5.007 0.341 0.711
Hoạt động xã
hội 9.19 1.851 9.18 1.873 9.15 1.034 0.005 0.995
Tự đánh giá
chung 412.64 30.604 407.13 28.15 407.90 28.031 0.832 0.437
Bảng 2.2.18: Hậu kiểm Tukey của sinh viên các năm học về tự đánh giá bản thân
Tự đánh giá Sinh viên năm thứ TB khác nhau P.
So sánh điểm TB của các
năm học
Năng lực Năm 4 Năm 1 2.14(*) .003 Năm 1< Năm 2 < Năm 4
Phẩm chất Năm 1 Năm 4 4.73(*) .026 Năm 4 < Năm 2 < Năm 1
Đạo đức Năm 1 Năm 2 1.03(*) .029 Năm 2 < Năm 4< Năm 1
Ghi chú: Trung bình khác biệt có ý nghĩa (*) khi P < 0.05
- Về tự đánh giá năng lực; giữa sinh viên các năm học thì chỉ có sinh viên năm thứ
nhất và sinh viên năm thứ tư là có sự khác biệt ý nghĩa, trong đó, sinh viên năm thứ tư (ĐTB
= 25.79) tự đánh giá năng lực cao hơn sinh viên năm thứ nhất (ĐTB =23.65). Giữa sinh viên
năm thứ hai và năm thứ tư, cũng như sinh viên năm thứ nhất và sinh viên năm hai không có
sự khác biệt trong tự đánh giá về mặt năng lực.
- Tự đánh giá về mặt phẩm chất; cũng giống như tự đánh giá về năng lực, chỉ có sinh
viên năm thứ nhất và sinh viên năm thứ tư là có sự khác biệt trong tự đánh giá về phẩm
chất, tuy nhiên sinh viên năm thứ nhất (ĐTB = 131.85) lại tự đánh giá về phẩm chất cao hơn
sinh viên năm thứ tư (ĐTB =127.12).
- Về mặt tự đánh giá đạo đức, chỉ có sự khác biệt trong đánh giá giữa sinh viên năm
thứ nhất và sinh viên năm thứ hai. Trong đó, sinh viên năm thứ nhất (ĐTB = 21.75) tự đánh
giá về đạo đức cao hơn sinh viên năm thứ hai (ĐTB =20.73). Giữa sinh viên năm thứ hai và
năm thứ tư, sinh viên năm thứ nhất và sinh viên năm tư không có sự khác biệt trong tự đánh
giá về mặt đạo đức.
2.2.2.4. So sánh về tự đánh giá bản thân giữa sv có mức sống khác nhau
Kết quả so sánh về tự đánh giá bản thân giữa sinh viên có mức sống khác nhau ở
bảng 2.2.21 cho thấy; trong 12 tiểu thang đo thì có 4 tiểu thang đo “Khả năng giao tiếp”,
“Ganh đua trong học tập”, “Sự thích nghi”, “Sự hài lòng bản thân” và thang đo chung về
tự đánh giá bản thân là có sự kh
Download miễn phí Luận văn Những yếu tố tác động đến tự đánh giá của sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh
- Vềtự đánh giá năng lực; giữa sinh viên các năm học thì chỉcó sinh viên năm thứ
nhất và sinh viên năm thứtưlà có sựkhác biệt ý nghĩa, trong đó, sinh viên năm thứtư(ĐTB
= 25.79) tự đánh giá năng lực cao hơn sinh viên năm thứnhất (ĐTB =23.65). Giữa sinh viên
năm thứhai và năm thứtư, cũng nhưsinh viên năm thứnhất và sinh viên năm hai không có
sựkhác biệt trong tự đánh giá vềmặt năng lực.
- Tự đánh giá vềmặt phẩm chất; cũng giống nhưtự đánh giá vềnăng lực, chỉcó sinh
viên năm thứnhất và sinh viên năm thứtưlà có sựkhác biệt trong tự đánh giá vềphẩm
chất, tuy nhiên sinh viên năm thứnhất (ĐTB = 131.85) lại tự đánh giá vềphẩm chất cao hơn
sinh viên năm thứtư(ĐTB =127.12).
- Vềmặt tự đánh giá đạo đức, chỉcó sựkhác biệt trong đánh giá giữa sinh viên năm
thứnhất và sinh viên năm thứhai. Trong đó, sinh viên năm thứnhất (ĐTB = 21.75) tự đánh
giá về đạo đức cao hơn sinh viên năm thứhai (ĐTB =20.73). Giữa sinh viên năm thứhai và
năm thứtư, sinh viên năm thứnhất và sinh viên năm tưkhông có sựkhác biệt trong tự đánh
giá vềmặt đạo đức.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-22-luan_van_nhung_yeu_to_tac_dong_den_tu_danh_gia_cua.oDvOdptPUx.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-41634/
Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung:
thang đo “năng lực”, “khả năng giao tiếp”, “phẩmchất” và tiểu thang đo về “đạo đức” là có sự khác biệt về tự đánh giá giữa sinh viên các
trường. Các tiểu thang đo trên đây đều có mức ý nghĩa nhỏ hơn P < 0.05. Các tiểu thang đo
“Khá năng giải quyết vấn đề”, “Trách nhiệm”, “Gia đình”, “Ganh đua trong học tập”,
“Sự thích nghi”, “Ngoại hình”, “Sự hài lòng bản thân”, và “Hoạt động xã hội” đều không
có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê trong tự đánh giá giữa sinh viên các trường.
Để biết rõ hơn trong từng tiểu thang đo sinh viên giữa các trường có sự khác biệt với
nhau, chúng ta dùng thêm phần hậu kiểm Tukey trong phần kết quả sau:
Bảng 2.2.16: Hậu kiểm Tukey của sinh viên các trường về tự đánh giá bản thân
Tự đánh giá Trường ĐTB khác biệt P.
So sánh điểm TB
của các trường
VĂN HIẾN SƯ PHẠM 1.92(*) .001Năng lực
KINH TẾ SƯ PHẠM 1.98(*) .001
Sư Phạm < Văn
Hiến< Kinh Tế
Đạo đức VĂN HIẾN KINH TẾ 1.00(*) .030 Kinh Tế< Văn Hiến
giao tiếp VĂN HIẾN SƯ PHẠM 1.22(*) .028
Sư Phạm < Kinh
Tế< Văn Hiến
Tự đánh giá
chung VĂN HIẾN KINH TẾ 11.26(*) .048
Văn Hiến
- Theo kết quả bảng 2.2.16, về tiểu thang đo “tự đánh giá về năng lực” thì giữa sinh viên
Sư Phạm và sinh viên Văn Hiến có sự khác biệt, trong đó sinh viên Văn Hiến (ĐTB =
24.73) đánh giá cao hơn Sư Phạm (ĐTB =22.81) và sinh viên trường Kinh Tế và sinh viên
trường Sư Phạm cũng có sự tự đánh giá về năng lực khác nhau, sinh viên trường Kinh Tế
(ĐTB = 24.79) tự đánh giá cao hơn sinh viên trường Sư Phạm (ĐTB = 22.81), cuối cùng,
sinh viên hai trường Văn Hiến và Kinh Tế không có sự khác nhau trong việc tự đánh giá về
mặt năng lực.
- Về tiểu thang đo tự đánh giá về khả năng giao tiếp; giữa sinh viên Sư Phạm và sinh viên
Văn Hiến có sự khác biệt, trong đó sinh viên Văn Hiến (ĐTB = 20.22) tự đánh giá cao hơn
Sư Phạm (ĐTB =19.00), sinh viên hai trường Văn Hiến và Kinh Tế không có sự khác nhau
trong việc tự đánh giá về mặt khả năng giao tiếp, và sinh viên trường Kinh Tế và sinh viên
trường Sư Phạm cũng không có sự khác biệt trong việc tự đánh giá về mặt giao tiếp.
- Tiểu thang đo tự đánh giá về những phẩm chất; Chỉ có sinh viên của hai trường Văn Hiến
và Kinh Tế là có sự khác biệt trong tự đánh giá về những phẩm chất, giữa hai trường này thì
sinh viên Văn Hiến (ĐTB = 133.55) tự đánh giá cao hơn sinh viên trường Kinh Tế (ĐTB
=128.95), còn các mối quan hệ giữa sinh viên trường Kinh Tế và Sư Phạm, sinh viên Sư
Phạm và sinh viên trường Văn Hiến không có sự khác biệt trong tự đánh giá về mặt phẩm
chất.
- Về tiểu thang đo tự đánh giá về mặt đạo đức; Sinh viên hai trường Sư Phạm và Kinh Tế là
có sự khác biệt trong tự đánh giá về những phẩm chất, giữa hai trường này thì sinh viên
trường Sư Phạm (ĐTB = 21.87) tự đánh giá cao hơn sinh viên trường Kinh Tế (ĐTB
=20.88), giữa sinh viên trường Kinh Tế và Văn Hiến không có sự khác biệt trong tự đánh
giá về mặt đạo đức, và sinh viên hai trường Văn Hiến và Sư Phạm cũng không có sự khác
biệt trong tự đánh giá về mặt đạo đức.
- Về tự đánh giá chung về bản thân thì kết quả cho thấy chỉ có sự khác nhau trong tự đánh
giá giữa sinh viên hai trường Kinh Tế và Văn Hiến. Trong đó, sinh viên Văn Hiến (ĐTB =
417986) tự đánh giá bản thân cao hơn sinh viên trường Kinh Tế (ĐTB = 406.719). Giữa
sinh viên trường Kinh Tế và Sư Phạm không có sự khác biệt trong tự đánh giá bản thân,
tương tự, sinh viên trường Sư Phạm và sinh viên trường Văn Hiến cũng không có sự khác
biệt trong tự đánh giá bản thân.
2.2.2.3. So sánh về tự đánh giá bản thân giữa sinh viên các năm
Bảng 2.2.17 dưới đây cho thấy, kết quả nghiên cứu từ mười hai tiểu thang đo về tự
đánh giá bản thân cho thấy có ba tiểu thang đo tự đánh giá bản thân về mặt “năng lực”,
“phẩm chất” và “đạo đức” là có sự khác biệt trong tự đánh bản thân giá giữa sinh viên của
các năm học. Trong từng tiểu thang đo cụ thể, sinh viên các năm học có sự khác nhau trong
tự đánh giá bản thân như thế nào, chúng ta sẽ xét qua phần hậu kiểm Tukey.
Bảng2.2.17: Biến lượng so sánh sinh viên các năm học về tự đánh giá bản thân
Năm 1 Năm 2 Năm 4 Năm học
Tự đánh giá ĐTB ĐLTC ĐTB ĐLTC ĐTB ĐLTC F P.
Năng lực 23.65 3.470 24.35 3.117 25.79 3.170 5.688 0.004
Khá năng giao
tiếp 19.50 3.005 19.39 3.040 20.06 2.384 0.595 0.553
Khá năng giải
quyết vấn đề 12.73 1.958 12.41 1.899 12.45 1.938 0.667 0.514
Phẩm chất 131.85 9.605 130.08 8.797 127.12 9.591 3.581 0.029
Đạo đức 21.75 2.468 20.73 2.417 20.88 2.522 4.188 0.016
Trách nhiệm 51.37 5.419 49.61 5.146 50.03 5.271 2.478 0.086
Gia đình 11.50 1.729 11.00 1.612 11.33 1.671 1.661 0.192
Ganh đua trong
học tập 54.59 4.876 53.55 4.388 54.91 5.015 1.111 0.331
Sự thích nghi 30.37 5.045 29.92 3.994 29.06 3.674 1.101 0.334
Ngoại hình 12.02 2.547 12.24 2.055 12.64 2.247 0.923 0.399
Sự hài lòng bản
thân 34.13 4.435 34.69 3.870 34.48 5.007 0.341 0.711
Hoạt động xã
hội 9.19 1.851 9.18 1.873 9.15 1.034 0.005 0.995
Tự đánh giá
chung 412.64 30.604 407.13 28.15 407.90 28.031 0.832 0.437
Bảng 2.2.18: Hậu kiểm Tukey của sinh viên các năm học về tự đánh giá bản thân
Tự đánh giá Sinh viên năm thứ TB khác nhau P.
So sánh điểm TB của các
năm học
Năng lực Năm 4 Năm 1 2.14(*) .003 Năm 1< Năm 2 < Năm 4
Phẩm chất Năm 1 Năm 4 4.73(*) .026 Năm 4 < Năm 2 < Năm 1
Đạo đức Năm 1 Năm 2 1.03(*) .029 Năm 2 < Năm 4< Năm 1
Ghi chú: Trung bình khác biệt có ý nghĩa (*) khi P < 0.05
- Về tự đánh giá năng lực; giữa sinh viên các năm học thì chỉ có sinh viên năm thứ
nhất và sinh viên năm thứ tư là có sự khác biệt ý nghĩa, trong đó, sinh viên năm thứ tư (ĐTB
= 25.79) tự đánh giá năng lực cao hơn sinh viên năm thứ nhất (ĐTB =23.65). Giữa sinh viên
năm thứ hai và năm thứ tư, cũng như sinh viên năm thứ nhất và sinh viên năm hai không có
sự khác biệt trong tự đánh giá về mặt năng lực.
- Tự đánh giá về mặt phẩm chất; cũng giống như tự đánh giá về năng lực, chỉ có sinh
viên năm thứ nhất và sinh viên năm thứ tư là có sự khác biệt trong tự đánh giá về phẩm
chất, tuy nhiên sinh viên năm thứ nhất (ĐTB = 131.85) lại tự đánh giá về phẩm chất cao hơn
sinh viên năm thứ tư (ĐTB =127.12).
- Về mặt tự đánh giá đạo đức, chỉ có sự khác biệt trong đánh giá giữa sinh viên năm
thứ nhất và sinh viên năm thứ hai. Trong đó, sinh viên năm thứ nhất (ĐTB = 21.75) tự đánh
giá về đạo đức cao hơn sinh viên năm thứ hai (ĐTB =20.73). Giữa sinh viên năm thứ hai và
năm thứ tư, sinh viên năm thứ nhất và sinh viên năm tư không có sự khác biệt trong tự đánh
giá về mặt đạo đức.
2.2.2.4. So sánh về tự đánh giá bản thân giữa sv có mức sống khác nhau
Kết quả so sánh về tự đánh giá bản thân giữa sinh viên có mức sống khác nhau ở
bảng 2.2.21 cho thấy; trong 12 tiểu thang đo thì có 4 tiểu thang đo “Khả năng giao tiếp”,
“Ganh đua trong học tập”, “Sự thích nghi”, “Sự hài lòng bản thân” và thang đo chung về
tự đánh giá bản thân là có sự kh