thienvuongkute
New Member
Download miễn phí Đề tài Pháp Luật Việt Nam hiện hành thành lập doanh nghiệp
Table of Contents
A. PHẦN MỞ BÀI: 1
B_ PHẦN NỘI DUNG. 2
I. Những vấn đề lí luận chung về thành lập doanh nghiệp và đăng kí kinh doanh. 2
1. Cơ sở pháp lí: 2
2. Khái niệm về thành lập và đăng kí kinh doanh cho doanh nghiệp. 2
3.Ý nghĩa pháp lí của việc thành lập doanh nghiệp. 3
II. Chế độ pháp lí về thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật hiện hành. 4
1. Điều kiện về ĐKKD. 4
2. ĐKKD 9
III. Thực tiễn áp dụng pháp luật về thành lập doanh nghiệp 15
1. Một số phân tích, nhận xét, đánh giá. 15
2. Những tồn tại vướng mắc cơ bản. 17
3. Một số kiến nghị về giải pháp hoàn thiện pháp luật về thành lập doanh nghiệp và thực thi pháp luật về doanh nghiệp. 18
C. PHẦN KẾT LUẬN: 22
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-01-21-de_tai_phap_luat_viet_nam_hien_hanh_thanh_lap_doan.DDGvrbo4o6.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-56525/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
p định của doanh nghiệp trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh. Đồng thời, Nhà nước chưa có quy định thống nhất trong một văn bản về ngành,nghề kinh doanh đòi hỏi phải có vốn pháp định.Hiện nay, vốn pháp định không phải là điều kiện bắt buộc đối với mọi ngành nghề . Việc xác định ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp định và mức vốn pháp định cụ thể của từng ngành nghề được thực hiện theo Nghị định của Chính phủ, trong đó có nhiều nghị định được ban hành trước khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực:
- Kinh doanh bảo hiểm ( Nghị định 43/CP ngày 1/8/2001 quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm)
Đối với doanh nghiệp bảo hiểm thì gồm có doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phia nhân thọ cần có vốn pháp định là 70 tỷ, hay 5 triệu USD; và kinh doanh bảo hiểm nhân thọ cần có vốn pháp định là 140 tỷ đồng hay 10 triệu USD .
Đối với doanh nghiệp mua giới bảo hiểm thì vốn pháp định là 3 tỷ đồng hay 300 nghìn USD.
- Ngành nghề kinh doanh liên quan đến chứng khoán (Nghị định 144/CP ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán).
Môi giới chứng khoán, quản lí doanh mục đầu tư, tư vấn đầu tư chứng khoán là 3 tỷ đồng
Bảo lãnh phát hành là 22 tỷ đồng.
- Kinh doanh vàng theo Nghị định số 174/CP ngày 9/12/1999 về quản lí hoạt động kinh doanh vàng và Nghị định 44/CP ngày 11/6/2003 sửa đổi, bổ sung 174 về hoạt động quản lí kinh doanh vàng.
Mặc dù có những hạn chế nhưng cũng phải thấy rằng với việc pháp luật hiện hành quy định vốn chỉ áp dụng đối với một số ngành nghề kinh doanh đã giảm thiểu được các chi phí và thủ tục phiền hà cho nhà đầu tư. Từ đây các nhà đầu tư sẽ yên tâm tập trung trong sản xuất, kinh doanh không phải lo toan về vốn, các chủ nợ cũng cẩn thận hơn khi hợp tác cho vay phải dựa trên cơ sở tình hình sản xuất kinh danh và báo cáo tài chính hàng năm là biểu hiện của khả năng thanh toán chứ không phải là vốn pháp định.
· Thứ ba. Điều kiện về ngành, nghề kinh doanh
Đây là những ngành nghề mà nếu cho phép tự do kinh doanh thì sẽ xâm hại đến những giá trị, lợi ich mà pháp luật đã và đang bảo vệ. Thực hiện sự đổi mới phương pháp quản lí từ cơ chế doanh nghiệp “chỉ làm những gì cho phép” sang cơ chế “được làm những gì mà pháp luật không cấm”, các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được ĐKKD ở hầu hết các ngành nghề,trừ một số ngành nghề liên quan đến an ninh,xã hội mà nhà nước cấm kinh doanh. Việc quy định, xác định ngành, nghề không chỉ nhằm đảm bảo cho lợi ích của cộng đồng không bị xâm hại mà Nhà nước còn định hứong doanh nghiệp phát triển trong các ngành nghề mà nhu cầu xã hội đang đặt ra , qua đó đảm bảo sự giám sát của nhà nước đối với sự định hướng, phát triển nói chung. Để quản lí ĐKKD có hiệu quả, Nhà nước quy định cụ thể về ngành nghề kinh doanh với các loại hình: Ngành nghề cấm kinh doanh; ngành nghề kinh doanh có điều kiện;ngành nghề phải có vốn pháp định; ngành nghề kinh doanh phải có giấy phép hay chứng chỉ ngành nghề.
Pháp luật hiện hành đã quy định khá đầy đủ và chi tiết các ngành nghề bị cấm kinh doanh; bao gồm:
Kinh doanh vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng và phương tiện kĩ thuật chuyên dùng trong các lực lượng vũ trang.
Kinh doanh chất nổ, chất phóng xạ, chất độc;
Kinh doanh mại dâm, dịch vụ tổ chức mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em.
Kinh doanh tổ chức gá bạc, đánh bạc.v.v...
Bằng hình thức quy định cụ thể các ngành nghề cấm kinh doanh, Nhà nước chính thức thừa nhận doanh nghiệp có quyền làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm. Phạm vi các ngành nghề cấm kinh doanh nói trên là phù hợp với yếu cầu và đòi hỏi của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước ta trong giai đoạn hội nhập hiện nay.
Ngành nghề kinh doanh có điều kiện:
Đây là những ngành nghề kinh doanh mà ít nhiều cũng đe doạ đến lợi ích của người tiêu dùng, lợi ích của Nhà nước và cộng đồng. Theo pháp luật hiện hành thì để được kinh doanh các ngành nghề này, các doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện nhất định, ĐKKD phải được thể hiện dưới một hình thức:
+ Giấy phép kinh doanh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp: Giấy phép kinh doanh là công cụ pháp lí quan trọng để nhà nước quản lí một số ngành nghề kinh doanh nhất định. Nhưng việc cơ quan nào cs quyền đặt ra giấy phép kinh doanh và đó là loại giấy gì thì cũng lại cần có sự quản lí của nhà nước.
+ ĐKKD không cần giấy phép: Đó là những ngành nghề kinh doanh tuy không đòi hỏi phải có giấy phép nhưng phải đáp ứng được các tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, quy định về phòng cháy, chữa cháy, trật tự an toàn xã hội, giao thông...
Ngành nghề kinh doanh phải có chứng chỉ ngành nghề:
Chứng chỉ ngành nghề là văn bản được cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay hội nghề nghiệp cấp cho các cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm về một ngành nghề nhất định. Việc pháp luật quy định chứng chỉ ngành nghề để nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong những trường hợp cần thiết. Thực chất điều kiện về chuyên môn xuất phát từ yêu cầu về bảo vệ lợi ích xã hội trên cơ sở từng ngành nghề kinh doanh nhất định. Đối với ngành nghề kinh doanh đặc thù: Kinh doanh trong lĩnh vực Y tế, Dược, Tư vấn pháp luật...Là những ngành nghề mà sản phẩm của nó khi “bán ra thị trường khách hàng không có khả năng kiểm tra được chất lượng”. Mặt khác, đây cũng là những ngành nghề không phải lúc nào cũng có khả năng đáp ứng cho khách hàng, mà chúng đòi hỏi nhà cung cấp phải có trình độ chuyên môn nhất định thì mới đảm bảo được dịch vụ “bán ra”.
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì những ngành nghề sau đây đòi hỏi người kinh doanh phải có những chứng chỉ hành nghề:
- Kinh doanh dịch vụ pháp lí.
- Kinh doanh dịch vụ khám chữa bệnh, kinh doanh dược phẩm.
- Kinh doanh dịch vụ thú y, kinh doanh thuốc thú y.
- Kinh doanh dịch vụ thiết kế công trình;
- Kinh doanh dịch vụ kiểm toán;
- Kinh doanh dịch vụ mua giới chứng khoán.
Với việc quy định cụ thể vấn đề ngành nghề kinh doanh phải có chứng chỉ ngành nghề, Nhà nước không chỉ tạo ra môi trường đầu tư minh bạch cho sự lựa chọn ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp mà còn dựa vào đó mà có cơ sở để xử lí khi có vi phạm.
· Các điều kiện khác
Ngoài các điều kiện như đã nêu ra và phân tích ở trên, thì các chủ thể thành lập doanh nghiệp để được ĐKKD còn pahỉ thoả mãn một số điều kiện nhất định khác:
+ Điều kiện về trụ sở: Trụ sở của doanh nghiệp phải là một địa điểm có thực trong bản đồ hành chính Việt Nam
+ Điều kiện về tên của doanh nghiệp: Tên của doanh nghiệp không được trùng lặp hay gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã đăng kí kinh doanh, không đuợc vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong ...