Download miễn phí Luận văn Phát triển đội ngũ lao động kỹ thuật ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LAO ĐỘNG KỸ THUẬT VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ HỘI NHẬP Ở NƯỚC TA 5
1.1. Lao động kỹ thuật và phát triển lao động kỹ thuật trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập ở nước ta 5
1.2. Một số yếu tố tác động tới quá trình phát triển lao động kỹ thuật 23
1.3. Những yêu cầu cơ bản về đào tạo lao động kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập 32
1.4. Kinh nghiệm của các nước và một số địa phương trong nước về phát triển lao động kỹ thuật 35
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ LAO ĐỘNG KỸ THUẬT Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 42
2.1. Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng và lực lượng lao động trên địa bàn 42
2.2. Thực trạng lao động kỹ thuật 52
2.3. Thực trạng phát triển lao động kỹ thuật 59
2.4. Đánh giá chung về phát triển lao động kỹ thuật 76
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN LAO ĐỘNG KỸ THUẬT Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 87
3.1. Các quan điểm và định hướng phát triển lao động kỹ thuật 87
3.2. Dự báo lao động kỹ thuật đến năm 2010 và 2015 92
3.3. Những giải pháp chủ yếu để phát triển lao động kỹ thuật ở thành phố Đà Nẵng đến năm 2010 103
Kết luận 125
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-03-13-luan_van_phat_trien_doi_ngu_lao_dong_ky_thuat_o_th.D7xq54kgtA.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-63267/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
à khả năng hoà nhập được vào thị trường lao động để tìm được việc làm hơn so với số sinh viên tốt nghiệp ĐH hay THCN. Điều đáng lưu ý là lao động qua đào tạo trình độ THCN rất khó tìm được việc làm tại thành phố, tỷ lệ thất nghiệp đối với loại lao động này luôn cao qua các năm, năm 2005, tỷ lệ này là 7,49% ở đô thị và 12,9% ở khu vực nông thôn, thậm chí cao hơn tỷ lệ thất nghiệp của lao động chưa qua đào tạo (6,25%), tập trung nhiều ở các ngành nghề như trung cấp kế toán, nhân viên văn thư... Do vậy, cần có chính sách phân luồng đào tạo, định hướng nghề nghiệp để các em có hướng học nghề để dễ tìm việc làm hơn trong thị trường lao động thành phố.2.3. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LAO ĐỘNG KỸ THUẬT
Phát triển LĐKT bao gồm vấn đề đào tạo, sử dụng lao động và quản lý nhà nước. Trong phần này sẽ phân tích thực trạng công tác đào tạo LĐKT trong hệ thống DN của thành phố, thực trạng cầu sử dụng lao động đã qua đào tạo LĐKT của nền kinh tế và thực trạng công tác quản lý nhà nước về LĐKT ở địa phương.
2.3.1. Thực trạng đào tạo và cung lao động kỹ thuật
Việc cung ứng LĐKT cho thị trường lao động thành phố các năm qua xuất phát chủ yếu là từ các kênh: Do doanh nghiệp tự tuyển dụng lao động phổ thông, chưa có nghề vào kèm nghề, đào tạo nghề rồi sử dụng; từ một bộ phận LĐKT nhập cư vào thành phố; từ Chợ việc làm định kỳ của thành phố và kênh cung ứng quan trọng nhất là từ các trường, cơ sở đào tạo LĐKT trên địa bàn.
Thứ nhất, do nhu cầu cấp thiết về đội ngũ LĐKT, đặc biệt là công nhân kỹ thuật các ngành chế biến, may mặc, giày da…mà thị trường cung ứng chưa kịp thời hay không đủ số lượng, các doanh nghiệp đã tuyển dụng số lao động chưa qua đào tạo nghề vào kèm nghề trong thời gian, rồi sử dụng. Đây là hình thức giải quyết việc làm rất linh động trong thời gian qua, tuy nhiên việc trang bị kiến thức nghề nghiệp trong thời gian ngắn là chưa đủ, mặt khác số lao động chưa qua đào tạo ở thành phố hầu hết là lao động trẻ thành thị, học vừa xong phổ thông trung học, họ rất ngại làm việc ca, kíp trong nhà máy hay đang trông chờ đi học ĐH hay tìm việc làm nhàn rỗi, có thu nhập cao hơn. Hơn nữa, đây cũng là gánh nặng về kinh phí đào tạo cho doanh nghiệp, trong khi chưa có chính sách hợp lý về vấn đề này.
Thứ hai, LĐKT ở ngoại tỉnh, nhập cư vào thành phố được xem là một nguồn cung LĐKT khá lớn. Thời gian qua, đội ngũ lao động này đã phần nào làm dịu bớt nhu cầu bức xúc về LĐKT của các doanh nghiệp trên địa bàn. Theo báo cáo của Ban quản lý các Khu công nghiệp và Chế xuất thành phố, năm 2006, trong 5 Khu công nghiệp trên địa bàn thành phố hiện có hơn 36.000 lao động, trong đó lao động nữ chiếm gần 80%. Số lao động nhập cư chiếm khoảng 40% (khoảng 14.400 người) so với tổng số lao động, hầu hết là LĐKT ở trình độ bán lành nghề và lành nghề, trong đó đến từ miền Bắc chiếm khoảng 37%, miền Trung 61%, miền Nam 2%. Trong các khu công nghiệp có gần 1.400 người của 17 đơn vị thi công các công trình xây dựng, có hơn 600 người tạm trú trong các khu công nghiệp qua đêm, số còn lại ngoài giờ làm việc họ về gia đình hay thuê nhà ở khu vực dân cư gần khu công nghiệp để sinh sống. Tuy nhiên, thu hút LĐKT ở các tỉnh, thành lân cận để đáp ứng nhu cầu nền kinh tế thành phố cần có một chiến lược cân nhắc, đồng bộ, từ chính sách tuyển dụng, chính sách nhà ở, chính sách tiền lương đến bảo đảm về cơ sở hạ tầng đi lại, điện, nước, môi trường và cả học hành, chữa bệnh cho chính người lao động và gia đình của họ.
Thứ ba, chợ việc làm định kỳ của thành phố hoạt động theo mô hình mới, dạng sàn giao dịch việc làm, mỗi tháng mở sàn một lần. Chợ việc làm thành phố được thành lập từ Quyết định số 33/2006/QĐ-UB của Uỷ ban nhân dân thành phố và bắt đầu phiên giao dịch đầu tiên vào tháng 5 năm 2006. Tính đến tháng 12 năm 2006, Chợ đã tổ chức được 8 phiên giao dịch, đây là nơi giới thiệu cung ứng lao động đã qua đào tạo nói chung, LĐKT nói riêng cho nhu cầu của các doanh nghiệp. Kết quả của Chợ việc làm được thể hiện ở bảng 2.10.
Qua kết quả từ Chợ việc làm định kỳ của thành phố cho thấy cung chỉ đáp ứng được hơn một nửa cầu và ứng viên đạt yêu cầu của doanh nghiệp, được doanh nghiệp chính thực tuyển dụng cũng chỉ hơn một nửa số cung tại Chợ. Trong đó LĐKT chiếm 76,6% tổng nhu cầu tuyển dụng của 879 lượt doanh nghiệp tham gia Chợ, nhưng các doanh nghiệp này cũng chỉ thoả mãn 15,0% nhu cầu loại lao động này. Nguyên nhân là do trái nghề cần tuyển dụng, thiếu khả năng hiểu biết về ngành nghề đào tạo, mặt khác LĐKT đến với Chợ việc làm phần lớn là đã từng rất khó kiếm việc làm ở những nơi khác do được đào tạo chưa tốt, chất lượng lao động không cao và đặc biệt là thiếu thông tin thị trường lao động, cho nên dẫn đến những bất cập.
Bảng 2.10: Kết quả giao dịch việc làm từ Chợ việc làm thành phố
ĐVT: Người
Phiên
P.1
P.2
P.3
P.4
P.5
P.6
P.7
P.8
TC
Nhu cầu tuyển dụng
7.056
1.955
2.331
3.023
2.492
511
2.082
1.489
20.939
- CĐ, ĐH
960
370
406
348
297
134
175
150
2.840
- THCN
449
273
313
321
183
162
204
156
2.061
- LĐKT
5.647
1.312
1.612
2.354
2.012
215
1.703
1.183
16.038
Kết quả giới thiệu
1.958
1.304
1.429
2.045
1.029
708
860
642
9.975
- CĐ, ĐH
584
589
594
432
510
358
346
208
3.621
- THCN
518
254
368
408
276
198
318
239
2.579
- LĐKT
856
461
467
1.205
243
152
196
195
3.865
Kết quả có việc làm
780
752
612
1.423
603
273
527
374
5.344
- CĐ, ĐH
201
342
223
294
231
115
158
115
1.679
- THCN
96
119
117
317
179
89
190
143
1.250
- LĐKT
483
291
272
812
193
69
179
116
2.415
Nguồn: Sở LĐ-TB&XH Đà Nẵng.
Thứ tư, một nguồn cung LĐKT quan trọng, có quy mô lớn là từ các trường, trung tâm, cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn thành phố. Thực trạng về mạng lưới cơ sở đào tạo nghề, quy mô đào tạo, cơ cấu đào tạo, chất lượng đào tạo, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên DN đã quyết định nguồn cung lao động này về số lượng, chất lượng trên thị trường lao động thời gian qua.
* Về mạng lưới cơ sở đào tạo LĐKT (các cơ sở DN): Các cơ sở đào tạo LĐKT trên địa bàn thành phố phát triển nhanh. Nếu như năm 2000 có 21 cơ sở, thì đến năm 2006 đã có 54 cơ sở, trong đó cơ sở DN công lập là 35 cơ sở (64,8%), cơ sở DN ngoài công lập là 19 cơ sở (35,2%). Cơ sở DN thuộc các Bộ, ngành Trung ương, các Tổng công ty đóng trên địa bàn có hoạt động DN là 14 đơn vị (25,9%), bao gồm: 03 trường DN, 05 trường ĐH và CĐ, 02 trường THCN, 04 trung tâm DN, doanh nghiệp hoạt động DN. Cơ sở DN thuộc địa phương (thuộc các Sở, ngành, Uỷ ban nhân dân quận, huyện, các doanh nghiệp địa phương) là 40 cơ sở (74,1%), trong đó có 5 trường DN (01 công lập, 04 ngoài công lập) và 35 trung tâm DN (20 công lập, 15 ngoài công lập), trong số này chỉ có 3 trung tâm DN do ngân sách đài thọ (Trung tâm Đào tạo nghề Hoà Vang, Trung tâm Đào tạo nghề Liên Chiểu, Trung tâm Đào tạo lái xe ôtô, môtô thuộc Sở Giao thông công chính), số còn lại là sản phẩm của xã hội hoá DN (Bảng 2.11). Hệ thống...