[email protected]
New Member
Download miễn phí Phương pháp sunfit hóa và cacbonat hóa
Ở nhiệt độ cao, độ nhớt dung dịch giảm do ở nhiệt độ cao chuyển động nhiệt trung bình của các nguyên phân tử lớn. như vậy khả năng liên kết của các Phân tử bị giảm, do đó độ nhớt sẻ bị giảm . tốc độ lọc tốt hơn là do hình thành nên các loại tủa CaCO3 lớn, các loại tủa này không có tính keo nên sẻ hổ trợ quá trình lọc, hơn nửa khi hình thành CaCO3 dạng tinh thể lớn như vậy thì khả năng hấp thụ các chất keo, do đó làm giảm độ nhớt nhiều hơn nửa. đồng thời ở nhiệt độ cao, độ nhớt của dung dịch giảm vì vậy sẻ hổ trợ nhiều hơn cho quá trình lọc.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-06-04-phuong_phap_sunfit_hoa_va_cacbonat_hoa.q24dr3CaHZ.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-69467/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
quá trình thông CO2 lần 1 rất ít được sử dụngỞ đây có 1 lợi ích là giúp cho quá trình lọc và lọc sơ bộ diễn ra nhanh hơn. Chứ còn chúng ta bị mất đường và tạo thêm những chất không đường khác…Nên phải xem xét lượng nước mia sau quá trình CO2 lần thứ nhất để hoàn lưu ngược trở lại quy trình.
PHƯƠNG PHÁP CACBONATE HÓA (CO2)
PHƯƠNG PHÁP CACBONATE HÓA (CO2)
Đây là một Phương pháp có nhiều ưu điểm và được dùng rất là nhiều trong những quốc gia sản xuất đường trên thế giới.
Về phân loại phương pháp CO2 có 3 Phương pháp:
Thông CO2 một lần
Thông CO2 chè trung gian
CO2 thông thường là Phương pháp mà ở đó CO2 được thông 2 lần và SO2 được thông 2 lần
Sơ đồ công nghệ của Phương pháp CO2 một lần
Thông CO2 một lần : hiện nay ngươi ta ít dung Phương pháp này
Nước mía hổn hợp được đun nóng lần thứ nhất đến nhiệt độ 50 →55 0C rồi sau đó cho vôi vào trước sau khi cho vôi vào với độ kiềm từ 300 đến 500 CaO/l thì chúng ta sẻ thông CO2 đi vào thiết bị xông CO2 sau đó chúng ta ép lọc và thông SO2 đến PH 7 và đun nóng lần 2 đến 100 0C sau đó chung bốc hơi và thu được mật chè.
Ưu điểm : chỉ cần thông CO2 một lần và cho toàn bộ sữa vôi vào trong nước mía một lần ( thiết bị đơn giản)
Nhược điểm:
nước mía chi đi qua một điểm đặc biệt duy nhất vì vậy sẻ loại được ít chất không đường
Vì sục CO2 sau khi cho vôi nên đầu tiên vôi sẻ tạo Phức với đường, Phức này làm giảm khả năng hòa tan CO2 vì nếu như không tạo Phức với đường thì CO2+ Ca(OH)2 (vì CaO + H2O →Ca(OH)2) làm tăng khả năng hòa tan của CO2 tuy nhiên nêu như mình cho vôi vô trước thì vôi sẻ Phản ứng với đường trước để tạo Phức giữa vôi với đường trước khi tạo thành giữa vôi với đường thì việc tạo thành Ca(OH)2 sẻ ít đi, sẻ làm giảm Phản ứng giữa Ca(OH)2 + CO2 như vậy CO2 sẻ có xu hướng thoát ra bên ngoài vì lượng CO2 thoát ra ngoài nhiều sẻ làm ảnh hưởng tới lượng CO2 có trong sản Phẩm và tạo ra rất nhiều bọt cho sản Phẩm bởi vì CO2 có khuynh hướng thoát ra ngoài nhiều
Sơ đồ công nghệ của Phương pháp CO2 chè trung gian.
Nước mía hỗn hợp đun nóng tới 1030C ±30C sau đó cho vôi sử dung Ca(OH)2 đạt được PH 7.2→7.9 sau đó thực hiên quá trình bốc hơi để tạo chè trung gian với độ rít từ 35→40 độ rít công đoạn từ nước mía hỗn hợp tới chè trung gian là công đoan tao ra nước chè trung gian và chè trung gian. Sau đó chúng ta tiến hành thông CO2
Thông CO2 lần một chúng ta thông CO2 kết hợp với thông Ca(OH)2 để đat được Ca(OH)2 PH 10.5→ 11 sau đó lọc ép lần thứ nhất, sau khi lọc ép lần thứ nhất chúng ta tiến hành thông CO2 lần thứ hai ở PH 7.8→ 8.5 sau đó chúng ta đun nóng 75 tới 800C và tiến hành lọc ép lần thứ hai sau khi lần lọc ép lần thứ hai thông SO2 lần thứ nhất để đạt PH 7→ 7.2 rồi sau đó bốc hơi để đạt độ rít từ 55→60 độ rít, sau đó thông SO2 lần thứ hai để thu đươc PH 6→ 6.6 rồi sau đó kiểm tra để thu được mật chè trong
Đăc điểm của Phương pháp này là khi đún nóng đến 1000C bốc hơi đến nồng độ mật chè khoãng 35→40 độ rít thì nước mía hỗn hợp mới dược sử lí bằng Phương pháp CO2 thông thường
Khi cô đặc nước mía tới nồng độ cao thì hàm lương chất không đường trong nước mía tương đối tập chung Phản ứng tương đối hoàn toàn do đó chung ta tiết kiệm được hóa chất, loại được nhiều chất không đường, trong thiết bị ít đóng cặn. ( vd 1: bạn có 10 Phân tử tạp chất dung dich ban đầu 5lít thì sự Phân tán làn 10/5. Vd 2: còn nếu như bạn cô đặc lại từ 5lít xuống còn 2lít với lượng chất không đường vấn là 10 Phân tử thì 10÷2=5 còn vd1 10÷5=2 tức là trên 1lít dịch nếu như 10/5 túc là thể tich ban đầu của bạn là 5lít thì trên 1lít bạn sẻ có 2 Phân tử tạp chất còn nếu như bạn cô đặc lai còn 2lít thì trên 1lít thể tích dịch của bạn sẻ có tới 5 Phân tử tạp chất)
Như vậy sự đâm đặc của tạp chất càng nhiều, càng cao như vây mình cho một lượng nhỏ síu Ca(OH)2 và CO2 ít thôi thì minh vẩn có thể kết tủa hết được PHần tạp chất đó thứ hai nữa là sự Phân tán kết tủa mình thu được vd như sự tập chung của tạp chất đậm đặc thành ra khi Phản ứng gom thành một khối lớn dể dàng lắng xuống , dể dàng loại ra còn nếu như nó Phân tán quá thì tủa nó nhỏ thì lúc đó mình rất khó lọc và thiết bị lọc của mình sẻ bị ngẹt. Một vấn đề nữa chúng ta cần xem xét là chúng ta chưa xác dịnh được nồng độ chè chung gian thích hợp và lượng đường tổn thất trong bả bùn,còn trong bùn sau quá trình lọc còn rất là nhiều
SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ TRONG PHƯƠNG PHÁP CACBONAT HÓA
Sơ đồ công nghệ của phương pháp chè CO2 trung gian
Nước mía hổn hợp
đun nóng 100 đến 103 0C
Cho vôi
Tạo chè trung gian
(độ prit từ 35 đến 40)
PH 7.2 đến 7.9 Sử dụng Ca(OH)2
Thông CO2
(thông CO2 lần 1 kết hợp với thông Ca(OH)2 để đạt PH 10.5 đến 11)
Lọc ép lần 1
thông CO2 lần 2
PH 7.8 đến 8.5
lọc ép lần 2
đun nóng 75 đến 800C
thông SO2 lần 1 đạt PH 7 đến 7.2
bốc hơi độ prit 55 đến 60
thông SO2 lần 2 PH 6 đến 6.6
mật chè trong
Đặc điểm của phương pháp này là khi đun nóng đến 1000C bốc hơi đến mật chè khoảng 35 đến 40 0 prit thì nước mía hổn hợp mới được xử lý bằng phương pháp thông CO2 thông thường. Khi cô đặc nước mía đến nồng độ cao thì hàm lượng chất không đường trong nước mía tương đối tập trung phản ứng tương đối hoàn toàn do đó tiết kiệm được hóa chất, loại được nhiều chất không đường , trong thiết bị ít chất đóng cặn.
Ví dụ: có 10 phân tử tạo chất tỏng dung dịch. Dung dịch ban đầu 5 lít thì sự phân tán là 10/5. Nếu cô đặc xuống còn 2 lít và vẩn có 10 phân tử chất không đường.nếu trường hợp 10/5 thì trên một lít sẻ có 2 phân tử tạp chất. còn trường hợp 2 10/5 thì một lít có 5 phân tử tạp chất. Như vậy cho một lượng ít Ca(OH)2 và CO2 vẩn có thể kết tủa hết lượng tạp chất đó.vì lượng tạp chất cao nên khi phản ứng sẻ tạo thành khối lớn dể dàng lắng xuống và loại ra. Còn nếu phân tán thì tủa nhỏ sẻ khó lọc khiến thiết bị lọc sẻ bị ngẹt. Chúng ta chưa thể xác định được nồng độ chè trung gian thích hợp và lượng đường tổn thất trong bả bùn sau quá trình lọc còn rất nhiều.
QUÁ TRÌNH THÔNG CO2 LẦN THỨ NHẤT
Quá trình thông CO2 lần thứ nhất.
Trong quá trình thông CO2 lần thứ nhất ta có 1 số ý sau:
Quá trình hóa học của việc thông CO2 lần thứ nhất.
Sơ đồ thông CO2 lần nhất.
Hiệu quả của việc thông CO2 lần nhất.
Trong quá trình hiệu quả của việc thông CO2 lần nhất ta có 1 số yếu tố ảnh hưởng:
Lượng vôi.
Tốc độ thông CO2 .
Nhiệt độ.
Độ kiềm.
Mục đích, ý nghĩa của việc thông CO2 lần thứ nhất: sau kh cho vôi vào nước mía ta tiến hành thông CO2 lần thứ nhất.
Khí CO2 thường được lấy từ lò vôi ( lò vôi là lò nung CaCO3 thành cao và CO2 ). Khí CO2 thoát ra và ta lấy CO2 đó để thông CO2 lần thứ nhất.
Múc đích: tạo kết tủa CaCO3 có tác dụng tăng tốc độ lọc nước mía, đóng vai trò như một chất trợ lực. Tuy nhiên, đây không phải là mục đích chính or mục đích chủ yếu của việc thông CO2 lần thứ nhất vì để có tác dụng lọc tốt thì chúng ta chỉ c...