giang_nguyendong
New Member
Download Tiểu luận Những quy định của luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự
Tại phiên tòa, bị cáo bình đẳng với Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác trong việc đưa chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ tại phiên tòa. Vì vậy, việc bị cáo có quyền tham gia phiên tòa sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc bị cáo thực hiện quyền bào chữa và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tòa án phải bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án của bị cáo và chỉ có thể xử vắng mặt bị cáo trong những trường hợp nhất định, những trường hợp khác phải hoãn phiên tòa. Trường hợp nhất định là khi bị cáo trốn tránh và việc truy nã không có hiệu quả, bị cáo ở nước ngoài và không thể triệu tập được đến phiên tòa, hay nếu sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử và bị cáo đã được giao quyết định triệu tập một cách hợp lệ.
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho
2. Những quy định của luật TTHS về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự
2.1 Những quy định của luật TTHS về địa vị pháp lý của bị can trong tố tụng hình sự
2.1.1. Quyền của bị can
Quyền của bị can được quy định tại khoản 2 Điều 49 BLTTHS 2003, theo đó bị can có quyền:
+ Được biết mình bị khởi tố về tội gì;
Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự do đó bị can cần được biết mình bị khởi tố về tội gì. Chỉ khi họ biết tội danh mà mình đang bị cơ quan có thẩm quyền buộc tội thì họ mới có thể đưa ra những chứng cứ, lỹ lẽ phủ nhận việc buộc tội đó, có thể tiến hành bào chữa hay nhờ NBC cho mình. Bị can phải được giao nhận quyết định khởi tố bị can, trong trường hợp có sự thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can cũng phải thông báo cho bị can biết.
Tuy nhiên, quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì của bị can có được bảo đảm trên thực tế hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của CQTHTT và NTHTT, thông qua việc giao và giải thích các quyết định tố tụng cũng như giải thích các quyền và nghĩa vụ cho bị can. Bị can được biết mình bị khởi tố về tội gì thông qua quyết định khởi tố bị can. Quyết định khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền phải có đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 126 BLTTHS.
+ Được giải thích về quyền và nghĩa vụ;
Bị can có quyền được yêu cầu giải thích về các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định cho họ. Theo quy định tại khoản 6, điều 126 BLTTHS 2003 thì CQĐT phải bảo đảm việc giao quyết định khởi tố cho bị can và giải thích cho bị can biết quyền và nghĩa vụ của họ. Không chỉ đơn thuần thông báo các quyền và nghĩa vụ mà còn phải giải thích cặn kẽ để bị can có thể hiểu rõ, tạo điều kiện để họ thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ đó, việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can cũng chính là CQTHTT, NTHTT đã chỉ ra cho bị can hiểu rõ ĐVPL của mình. Từ đó họ có thể biết mình đang trong tình trạng pháp lý nào, đang có quyền và phải có nghĩa vụ gì.
+ Trình bày lời khai
Bị can có quyền trình bày các tình tiết, sự việc có liên quan đến vụ án để đưa ra những bằng chứng chứng minh cho mình trước sự buộc tội của CQTHTT. Việc khai báo, trình bày lời khai là một quyền chứ không phải là nghĩa vụ của bị can. Trong trường hợp họ từ chối khai báo hay khai báo gian dối thì họ cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đó. Ngược lại, thái độ khai báo thành khẩn của họ lại được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (điểm p khoản 1 Điều 46 BLTTHS 2003).
Trong trường hợp bị can nhận tội, khai báo các tình tiết phạm tội của mình thì lời nhận tội này chỉ được coi là chứng cứ buộc tội nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án, nếu không NTHTT sẽ có những kết luận sai lầm đi đến việc buộc tội người không có tội.
Lời khai của bị can để trở thành chứng cứ và được sử dụng trong việc giải quyết vụ án phải được ĐTV tiến hành thu nhập theo những thủ tục pháp luật quy định. Do vậy khi bị can trình bày lời khai của mình thì NTHTT có nhiệm vụ ghi chép thu thập những thông tin dưới dạng văn bản, hình ảnh hay âm thanh để làm chứng cứ cho vụ án. Sau đó, ĐTV đều phải cho bị can đọc lại, hay nghe lại rồi cùng ký tên vào biên bản. Việc trình bày lời khai chính là việc bị can đang thực hiện quyền bào chữa của mình.
+ Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu
Bị can có quyền được đưa ra các đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án để chứng minh cho sự vô tội của mình. Cơ quan điều tra phải tiến hành kiểm tra, đánh giá cách khách quan để xác định các tài liệu, đồ vật đó có phải là chứng cứ trong vụ án hay không.
Bị can cũng có quyền đưa ra các yêu cầu như yêu cầu trưng cầu giám định, giám định bổ sung hay giám lại… Tuy nhiên để bảo đảm hiệu quả trong công tác điều tra và tính bí mật trong giải quyết vụ án thì NTHTT có thể từ chối những yêu cầu không hợp lý của bị can.
+ Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch
Pháp luật ghi nhận quyền yêu cầu thay đổi NTHTT của bị can tại khoản 2 Điều 43 BLTTHS 2003. Bị can có quyền đề nghị thay đổi nếu có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ, việc họ tiến hành hay tham gia tố tụng có thể làm cho vụ án được giải quyết theo hướng không có lợi cho bị can. Tùy theo yêu cầu thay đổi từng NTHTT và chức vụ khác nhau mà căn cứ vào từng điều luật theo quy đinh của pháp luật từ Điều 44 đến Điều 47 BLTTHS 2003 mà người có thẩm quyền quyết định thay đổi hay không thay đổi NTHTT theo yêu cầu của bị can.
Với người giám định thì kết quả giám định ảnh hưởng không nhỏ đến việc chứng minh cho hành vi của bị can có cấu thành tội phạm hay không, do đó bị can có quyền yêu cầu thay đổi người giám định. Cơ quan trưng cầu giám định sẽ quyết định việc thay đổi hay không thay đổi giám định viên theo yêu cầu của bị can căn cứ theo quy định của pháp luật.
Đối với trường hợp có NTGTT không sử dụng được tiếng Việt, nếu người phiên dịch không trung thực hay không có khả năng phiên dịch chính xác thì cũng có thể làm sai lệch đi sự thật của vụ án rất có thể sẽ làm ảnh hưởng đến bị can. Do vậy bị can có quyền yêu cầu thay đổi người phiên dịch. Người phiên dịch phải từ chối hay bị thay đổi nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3, Điều 62 BLTTHS 2003. Cơ quan yêu cầu phiên dịch quyết định việc thay đổi hay không thay đổi người phiên dịch.
Quyền thay đổi NTHTT, người phiên dịch, người giám định đã một lần nữa tạo điều kiện tốt nhất cho bị can có thể bảo vệ quyền lợi của mình khỏi sự xâm phạm từ phía những NTHTT và những NTGTT khác.
+ Tự bào chữa hay nhờ người khác bào chữa
Điều 12 BLTTHS 2003 quy định: “bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hay nhờ người khác bào chữa. CQĐT, VKS và TA có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ”. Quyền bào chữa không chỉ là một quyền độc lập, tách rời với các quyền khác của bị can bị cáo mà có thể hiệu quyền bào chữa là tổng hòa các quyền của bị can.
Quyền bào chữa của bị can được thể hiện dưới 2 hình thức: tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa.
Đối với quyền tự bào chữa, pháp luật đã quy định cho bị can những quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì, được giao nhận các quyết định tố tụng, được giải thích về quyền và nghĩa vụ, được trình bày lời khai, đưa ra đồ vật, tài liệu, yêu cầu… Những quyền này đều nhằm mục đích trợ giúp cho bị can tự thực hiện quyền bào chữa của mình trước CQTHTT và NTHTT. Bị can có thể dùng lời khai, đưa ra những đồ vật, tài liệu để chứng minh cho sự vô tội của mình. Quyền tự bào chữa của bị can được thực hiện trong tất cả các giai đoạn mà bị can tham gia.
Bên cạnh việc tự bào chữa, pháp luật quy định cho bị can quyền nh
Download miễn phí Tiểu luận Những quy định của luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự
Tại phiên tòa, bị cáo bình đẳng với Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác trong việc đưa chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ tại phiên tòa. Vì vậy, việc bị cáo có quyền tham gia phiên tòa sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc bị cáo thực hiện quyền bào chữa và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tòa án phải bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án của bị cáo và chỉ có thể xử vắng mặt bị cáo trong những trường hợp nhất định, những trường hợp khác phải hoãn phiên tòa. Trường hợp nhất định là khi bị cáo trốn tránh và việc truy nã không có hiệu quả, bị cáo ở nước ngoài và không thể triệu tập được đến phiên tòa, hay nếu sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử và bị cáo đã được giao quyết định triệu tập một cách hợp lệ.
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho
Tóm tắt nội dung:
quy định cho người đã bị TA quyết định đưa ra xét xử.2. Những quy định của luật TTHS về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự
2.1 Những quy định của luật TTHS về địa vị pháp lý của bị can trong tố tụng hình sự
2.1.1. Quyền của bị can
Quyền của bị can được quy định tại khoản 2 Điều 49 BLTTHS 2003, theo đó bị can có quyền:
+ Được biết mình bị khởi tố về tội gì;
Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự do đó bị can cần được biết mình bị khởi tố về tội gì. Chỉ khi họ biết tội danh mà mình đang bị cơ quan có thẩm quyền buộc tội thì họ mới có thể đưa ra những chứng cứ, lỹ lẽ phủ nhận việc buộc tội đó, có thể tiến hành bào chữa hay nhờ NBC cho mình. Bị can phải được giao nhận quyết định khởi tố bị can, trong trường hợp có sự thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can cũng phải thông báo cho bị can biết.
Tuy nhiên, quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì của bị can có được bảo đảm trên thực tế hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của CQTHTT và NTHTT, thông qua việc giao và giải thích các quyết định tố tụng cũng như giải thích các quyền và nghĩa vụ cho bị can. Bị can được biết mình bị khởi tố về tội gì thông qua quyết định khởi tố bị can. Quyết định khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền phải có đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 126 BLTTHS.
+ Được giải thích về quyền và nghĩa vụ;
Bị can có quyền được yêu cầu giải thích về các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định cho họ. Theo quy định tại khoản 6, điều 126 BLTTHS 2003 thì CQĐT phải bảo đảm việc giao quyết định khởi tố cho bị can và giải thích cho bị can biết quyền và nghĩa vụ của họ. Không chỉ đơn thuần thông báo các quyền và nghĩa vụ mà còn phải giải thích cặn kẽ để bị can có thể hiểu rõ, tạo điều kiện để họ thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ đó, việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can cũng chính là CQTHTT, NTHTT đã chỉ ra cho bị can hiểu rõ ĐVPL của mình. Từ đó họ có thể biết mình đang trong tình trạng pháp lý nào, đang có quyền và phải có nghĩa vụ gì.
+ Trình bày lời khai
Bị can có quyền trình bày các tình tiết, sự việc có liên quan đến vụ án để đưa ra những bằng chứng chứng minh cho mình trước sự buộc tội của CQTHTT. Việc khai báo, trình bày lời khai là một quyền chứ không phải là nghĩa vụ của bị can. Trong trường hợp họ từ chối khai báo hay khai báo gian dối thì họ cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đó. Ngược lại, thái độ khai báo thành khẩn của họ lại được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (điểm p khoản 1 Điều 46 BLTTHS 2003).
Trong trường hợp bị can nhận tội, khai báo các tình tiết phạm tội của mình thì lời nhận tội này chỉ được coi là chứng cứ buộc tội nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án, nếu không NTHTT sẽ có những kết luận sai lầm đi đến việc buộc tội người không có tội.
Lời khai của bị can để trở thành chứng cứ và được sử dụng trong việc giải quyết vụ án phải được ĐTV tiến hành thu nhập theo những thủ tục pháp luật quy định. Do vậy khi bị can trình bày lời khai của mình thì NTHTT có nhiệm vụ ghi chép thu thập những thông tin dưới dạng văn bản, hình ảnh hay âm thanh để làm chứng cứ cho vụ án. Sau đó, ĐTV đều phải cho bị can đọc lại, hay nghe lại rồi cùng ký tên vào biên bản. Việc trình bày lời khai chính là việc bị can đang thực hiện quyền bào chữa của mình.
+ Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu
Bị can có quyền được đưa ra các đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án để chứng minh cho sự vô tội của mình. Cơ quan điều tra phải tiến hành kiểm tra, đánh giá cách khách quan để xác định các tài liệu, đồ vật đó có phải là chứng cứ trong vụ án hay không.
Bị can cũng có quyền đưa ra các yêu cầu như yêu cầu trưng cầu giám định, giám định bổ sung hay giám lại… Tuy nhiên để bảo đảm hiệu quả trong công tác điều tra và tính bí mật trong giải quyết vụ án thì NTHTT có thể từ chối những yêu cầu không hợp lý của bị can.
+ Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch
Pháp luật ghi nhận quyền yêu cầu thay đổi NTHTT của bị can tại khoản 2 Điều 43 BLTTHS 2003. Bị can có quyền đề nghị thay đổi nếu có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ, việc họ tiến hành hay tham gia tố tụng có thể làm cho vụ án được giải quyết theo hướng không có lợi cho bị can. Tùy theo yêu cầu thay đổi từng NTHTT và chức vụ khác nhau mà căn cứ vào từng điều luật theo quy đinh của pháp luật từ Điều 44 đến Điều 47 BLTTHS 2003 mà người có thẩm quyền quyết định thay đổi hay không thay đổi NTHTT theo yêu cầu của bị can.
Với người giám định thì kết quả giám định ảnh hưởng không nhỏ đến việc chứng minh cho hành vi của bị can có cấu thành tội phạm hay không, do đó bị can có quyền yêu cầu thay đổi người giám định. Cơ quan trưng cầu giám định sẽ quyết định việc thay đổi hay không thay đổi giám định viên theo yêu cầu của bị can căn cứ theo quy định của pháp luật.
Đối với trường hợp có NTGTT không sử dụng được tiếng Việt, nếu người phiên dịch không trung thực hay không có khả năng phiên dịch chính xác thì cũng có thể làm sai lệch đi sự thật của vụ án rất có thể sẽ làm ảnh hưởng đến bị can. Do vậy bị can có quyền yêu cầu thay đổi người phiên dịch. Người phiên dịch phải từ chối hay bị thay đổi nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3, Điều 62 BLTTHS 2003. Cơ quan yêu cầu phiên dịch quyết định việc thay đổi hay không thay đổi người phiên dịch.
Quyền thay đổi NTHTT, người phiên dịch, người giám định đã một lần nữa tạo điều kiện tốt nhất cho bị can có thể bảo vệ quyền lợi của mình khỏi sự xâm phạm từ phía những NTHTT và những NTGTT khác.
+ Tự bào chữa hay nhờ người khác bào chữa
Điều 12 BLTTHS 2003 quy định: “bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hay nhờ người khác bào chữa. CQĐT, VKS và TA có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ”. Quyền bào chữa không chỉ là một quyền độc lập, tách rời với các quyền khác của bị can bị cáo mà có thể hiệu quyền bào chữa là tổng hòa các quyền của bị can.
Quyền bào chữa của bị can được thể hiện dưới 2 hình thức: tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa.
Đối với quyền tự bào chữa, pháp luật đã quy định cho bị can những quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì, được giao nhận các quyết định tố tụng, được giải thích về quyền và nghĩa vụ, được trình bày lời khai, đưa ra đồ vật, tài liệu, yêu cầu… Những quyền này đều nhằm mục đích trợ giúp cho bị can tự thực hiện quyền bào chữa của mình trước CQTHTT và NTHTT. Bị can có thể dùng lời khai, đưa ra những đồ vật, tài liệu để chứng minh cho sự vô tội của mình. Quyền tự bào chữa của bị can được thực hiện trong tất cả các giai đoạn mà bị can tham gia.
Bên cạnh việc tự bào chữa, pháp luật quy định cho bị can quyền nh