vivian_lil_kery

New Member

Download Đề tài Thực trạng giáo dục – đào tạo và tiến độ phổ cập giáo dục THCS ở huyện miền núi Văn Quan tỉnh Lạng Sơn từ năm 2001 – 2005 miễn phí





MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU.2
1. Lí do chọn đề tài.2
2. Mục đích nghiên cứu.3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.4
4. Phương pháp nghiên cứu.
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG.
Chương I. Vị trí vai trò to lớn của giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tầm quan trọng của công tác giáo dục phổ cập THCS giai đoạn hiện nay.
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin.
2. Quan điểm của Đảng và nhà nước ta về công tác giáo dục.
3. Nội dung, hình thức của công tác phổ cập giáo dục THCS.
Chương II. Thực trạng giáo dục – đào tạo và tiến độ phổ cập giáo dục THCS ở huyện miền núi Văn Quan tỉnh Lạng Sơn từ năm 2001 – 2005.
I. Giới thiệu về huyện Văn Quan.
II. Thực trạng và tiến độ phổ cập giáo dục THCS ở huyện Văn Quan từ năm 2001 đến năm 2005.
Chương III. Một số giải pháp quản lí nhằm đẩy nhanh tiến độ phổ cập giáo dục THCS ở huyện miền núi Văn Quan.
1. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng.
2. Giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức.
3. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ.
4. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục.
5. Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, phối hợp với giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy .
PHẦN THỨ BA: KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN.
I. Những kiến nghị.
II. Kết luận.
 
 
 
 
 
 
 



Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

Giới thiệu về huyện Văn Quan
Văn Quan là một huyện miền núi vùng cao nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Lạng Sơn. Phía Bắc giáp với huyện Văn Lãng, phía Tây giáp với huyện Bình Gia và huyện Bắc Sơn, phía Nam giáp huyện Chi Lăng và huyện Hữu Lũng, phía Đông giáp huyện Cao Lộc, huyện Văn Quan nằm trên trục quốc lộ 1B, nằm sát sông Kì Cùng và trên sông Tu Đồn.
Cả huyện có diện tích tự nhiên là 549km2, với tổng dân số trên 57 nghìn người, gồm các dân tộc Tày, Nùng và Kinh chung sống. Trong đó chiếm phần lớn số dân là các dân tộc Nùng, Tày với tỉ lệ 97,7%.. Toàn huyện có 23 xã và 1 thị trấn, trong đó có 9 xã vùng 3 được hưởng chế độ, chính sách 135, có 12 xã vùng 2, 2 xã và 1 thị trấn thuộc vùng 1. Giữa các vùng vẫn có sự chênh lệch khá lớn về mật độ dân số và trình độ dân trí cũng như các điều kiện kinh tế, xã hội.
Về những thành tựu nổi bật là lĩnh vực nông nghiệp và trồng rừng. Trong những năm qua phát triển với tốc độ khá cao, đã chuyển mạnh từ sản xuất quảng canh sang thâm canh, đã hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Huyện tập trung vào trồng (sản xuất) cây lúa, khoai tây, dưa hấu, đậu xanh, đậu tương, trồng cây ăn quả như là cam, quýt, vải, nhãn. Toàn huyện có diện tích trồng lúa và hoa màu là 20.700 ha, diện tích trồng cây hồi và cây ăn quả 18.200 ha. Tổng sản lượng cây có hạt 250 nghìn tấn/năm. Chăn nuôi từng bước trở thành ngành sản xuất hàng hóa, hiện nay tổng đàn trâu, bò: 29.580 con, đàn lợn: 68.860 con. Ngoài ra còn chăn nuôi dê, gia cầm, nuôi trồng thủy sản như cá lồng, tôm càng xanh....
Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sau 15 năm đổi mới nền kinh tế của huyện chuyển dịch đúng hướng và tăng trưởng khá. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 11,5%/năm. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng lên, tình hình chính trị được giữ vững và ổn định, trật tự an toàn xã hội luôn được đảm bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chương trình, mục tiêu phổ cập GDTHCS.
Tỷ lệ trẻ từ 6 – 11 tuổi đến trường hàng năm đạt từ 98% trở lên, ngành học mầm non có số lượng trẻ đến trường đạt 68% trở lên, riêng trẻ 5 tuổi ra học lớp mẫu giáo 99% trở lên. Toàn huyện có 48 đơn vị trường học. Cụ thể như sau:
+ Mầm non: 5 trường
+ Tiểu học: 18 trường
+ PTCS: 10 trường
+ THCS: 12 trường
+ THPT: 02 trường
+ TTGDTX: 1 trung tâm
Cán bộ, giáo viên, nhân viên: 1219 đồng chí, trong đó:
+ Giáo viên mầm non : 112 đồng chí
+ Giáo viên tiểu học : 447 đồng chí
+ Giáo viên THCS : 414 đồng chí
+ Giáo viên THPT : 126 đồng chí
+ Nhân viên : 120 đồng chí
Công tác tuyên truyền và xã hội hóa nhiệm vụ phổ cập giáo dục THCS: được đánh giá là một trong những nhiệm vụ quan trọng, trọng tâm, công tác PCGDTHCS không chỉ là nhiệm vụ riêng của ngành giáo dục. Các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đã xác định rõ công tác PCGDTHCS là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân huyện Văn Quan. Từ đó đã được sự quan tâm, phối hợp vào cuộc của tất cả các ban ngành đoàn thể và nhất là sự ủng hộ của toàn dân. Nhận thức được điều đó, Ban chỉ đạo PCGDTHCS huyện Văn Quan đã triển khai thực hiện công tác tuyên truyền rộng khắp trong nhân dân các dân tộc trong toàn huyện thông qua các hình thức vận động, viết bài, động viên kịp thời những đơn vị, những cá nhân tích cực trong công tác PCGDTHCS. Từ đó đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể của huyện, của các xã, cũng như sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân. Đồng thời hàng năm chỉ đạo tốt “Ngày toàn dân đưa trẻ em đến trường” nhằm huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, tổ chức mở các lớp bổ tú THCS nhằm huy động các đối tượng bỏ học ở cấp THCS ra học.
Từ năm 2001 đến năm 2005, toàn huyện đã tổ chức được 23 lớp bổ túc THCS với 634 học viên. Các lớp bổ túc THCS được học đầy đủ các môn học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Mỗi học viên tham gia học lớp bổ túc THCS đều được ủng hộ sách giáo khoa, vở ghi... và các chế độ ưu tiên khác. Với sự cố gắng đó, từ năm 2001 đến năm 2005, tổng số học viên đã tốt nghiệp bổ túc THCS là 620 học viên (đạt tỉ lệ 97,6%). Đây chính là lực lượng góp phần không nhỏ vào việc nâng cao tỉ lệ đối tượng độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi ở các xã để đạt được tỉ lệ chuẩn theo quy định. Trong quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác PCGDTHCS ở huyện Văn Quan đã thu được kết quả: Đến tháng 9 năm 2005 đã có 22/24 xã, thị trấn đạt chuẩn PCGDTHCS, huy động tối đa số thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi có bằng tốt nghiệp THCS là 4409/5690 đạt tỉ lệ 77,49%. Huyện Văn Quan đã được UBND tỉnh Lạng Sơn công nhận đạt chuẩn phổ cập GDTHCS tháng 12/2005.
II. Thực trạng và tiến độ phổ cập giáo dục THCS ở huyện Văn Quan từ năm 2001 đến năm 2005
1. Thành tựu đạt được trong công tác PCGDTHCS của huyện Văn Quan từ năm 2001 đến năm 2005
Văn Quan trong những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX có số người mù chữ trong độ tuổi từ 9 – 25 tuổi là 2292/21548 người, chiếm tỉ lệ 10,64% dân số trong độ tuổi (số liệu đã điều tra tháng 12/1991). Trong đó, số trẻ độ tuổi từ 9 – 14 tuổi chưa ra lớp là 1426 còn mù chữ là 866 người, số người trong độ tuổi từ 15 – 25 tuổi còn mù chữ là 866 người. Với một trình độ dân trí thấp như vậy nên kéo theo các tệ nạn xã hội, nạn phá rừng vận chuyển gỗ trái phép, đốt rừng trồng ngô, trồng sắn làm cho rừng cây cũng cạn kiệt, nạn lũ lụt hàng năm tàn phá, đất đai bạc màu, đời sống nhân dân lam lũ cơ cực, một mặt trẻ em không chịu đi học, mặt khác nhiều gia đình không cho trẻ em đến trường, đến lớp. Tình trạng giáo viên ở Văn Quan lúc đó là: “có thầy không có trò”, học sinh chỉ học đến lớp 4, lớp 5, lớp 6 là bỏ học theo cha mẹ đi làm nương, đi đào đãi vàng. Nhưng chỉ sau 6 năm thực hiện Chỉ thị 01 của Hội đồng bộ trưởng và Luật phổ cập Giáo dục tiểu học, chống mù chữ và chính sách cải thiện kinh tế của Đảng và Chính phủ, Văn Quan đã thu được những kết quả khả quan trong lĩnh vực giáo dục.
Năm 1996, huyện Văn Quan có 23/24 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học – chống mù chữ. Trẻ trong độ tuổi phổ cập tiểu học (6 – 14 tuổi) có 11.475 cháu.
Trong đó: đang học tiểu học và tốt nghiệp tiểu học là: 10.879/11.475 tỷ lệ 94,96%.
Chưa đi học, còn mù chữ là 578 cháu/11.475 cháu, chiếm tỉ lệ 5,04%.
Bỏ học tiểu học: 106 cháu/11.475 cháu, chiếm tỉ lệ 0,92%.
Người trong độ tuổi (15 – 25 tuổi) toàn huyện có 10.273 người.
Trong đó: Số người mù chữ và biết chữ chưa chắc chắn (lớp 1, lóp 2) là 714 người/10.273 người, chiếm tỉ lệ 6,95%.
Những thành quả đã đạt được về phổ cập giáo dục tiểu học chống mù chữ trong giai đoạn 1990 – 1996 đã tạo đà cho phát triển sự nghiệp giáo dục và công tác PCGDTHCS sau này. Đến năm 1999, toàn huyện có 100% số xã đạt chuẩn phổ cập tiểu học và chống mù chữ. Năm 2000, Huyện ủy Văn Quan đã triển khai kế hoạch 19/KH-HU, ngày 31/08/2000 về PCGDTHCS (từ năm 2000 đến năm 2005) với ...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác
Tạo bởi Tiêu đề Blog Lượt trả lời Ngày
H Thực trạng đội ngũ giáo viên dạy trẻ khuyết tật ở tỉnh phía nam và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Khoa học Tự nhiên 0
C Thực trạng quản lý giáo dục mầm non qua mạng internet ở thành phố Hồ Chí Minh Khoa học Tự nhiên 0
Y Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở các trường THPT TP HCM Khoa học Tự nhiên 0
N Chất lượng giáo dục Đại học hiện tại ở Việt Nam - Thực trạng và biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Đại học Luận văn Kinh tế 0
N Thực trạng về tổ chức giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại công ty In và Sản xuất bao bì Hà Nội - giải pháp nhằm hoàn thiện công tác trên Luận văn Kinh tế 0
T Giáo dục ngoại ngữ ở trường THPT năm đổi mới tại tỉnh thành đồng bằng Bắc Bộ - Thực trạng và giải pháp Luận văn Sư phạm 0
T Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi một số tỉnh của Việt Nam Luận văn Sư phạm 2
G Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba tỉnh phía bắc Việt Nam kiến nghị và giải pháp Luận văn Sư phạm 0
J Xây dựng cơ sở dữ liệu và tài liệu tập huấn về điều kiện địa lý, tài nguyên và thực trạng khai thác lãnh thổ khu vực Tản Lĩnh - Vân Hòa huyện Ba Vì phục vụ tuyên truyền giáo dục bảo vệ môi trường Luận văn Sư phạm 0
D Thực trạng về du lịch tâm linh phật giáo ở Việt Nam Luận văn Kinh tế 0

Các chủ đề có liên quan khác

Top