hai_yen140488
New Member
Download miễn phí Đề tài Thực trạng nền nông nghiệp Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO
MỤC LỤC
Phần I : Lời mở đầu 1
Phần II : Nội dung 2
1. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 2
2. Tình hình Việt Nam trước khi gia nhập WTO 3
3. Tình hình Việt Nam sau khi gia nhập WTO . 4
3.1. Thuận lợi .4
3.2. Khó khăn và thách thức .6
4. Giải pháp . 8
Phần III : Kết luận .9
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-11-10-de_tai_thuc_trang_nen_nong_nghiep_viet_nam_truoc_v.HVWvvCgjuV.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-44934/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
THỰC TRẠNG NỀN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRƯỚC VÀ SAU KHI GIA NHẬP WTOI. LỜI MỞ ĐẦU
Sinh ra trong nước Việt Nam, không ai trong chúng ta lại không biết rằng nền kinh tế nước ta xuất phát từ nông nghiệp, đi lên từ nông nghiệp và cũng từ nông nghiệp mà trưởng thành. Và có một điều chắc chắn rằng dù đất nước Việt Nam có phát triển đến đâu đi chăng nữa, cơ cấu nghành nghề có chuyển dịch theo hướng nào đi chăng nữa thì nền kinh tế Việt Nam cũng không thể tách rời khỏi Nông nghiệp.
Nông nghiệp luôn là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia, kể cả những nước đã đạt đến trình độ phát triển cao. Nó là khu vực sản xuất chủ yếu, đảm bảo việc làm và đời sống cho xã hội, là thị trường rộng lớn cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm cho nền kinh tế.
Hiện nay Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp lâu đời và vẫn là nước nông nghiệp. Do đó, bên cạnh mục tiêu đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ để hiện đại hoá đất nước, chúng ta vẫn không thể quên tầm quan trọng của việc phát triển nông nghiệp, vì đó là một trong những chìa khoá để phát triển kinh tế, ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Để đạt được những mục tiêu này, Việt Nam đã tích cực chủ động tham gia các tổ chức khu vực như ASEAN, AFTA, ASEM và mục tiêu gia nhập WTO của chúng ta cuối cùng cũng đã được hoàn thành sau 11 năm phấn đấu. Trở thành thành viên chính thức của WTO, cũng như các ngành khác, ngành nông nghiệp Việt Nam sẽ được hưởng quy chế đối xử bình đẳng của các Hiệp định, từ đó mở ra nhiều cơ hội về mở cửa thị trường và đầu tư nước ngoài nhưng đồng thời chúng ta cũng phải chịu áp lực trên cả thị trường trong lẫn ngoài nước do phải thực hiện lộ trình cắt giảm thuế khi tính cạnh tranh của hàng nông sản nước nhà còn rất thấp… Các cơ hội và thách thức này đã được chúng ta nghiên cứu, thảo luận trong suốt 11 năm qua nên không còn mới mẻ. Song sau năm năm kể từ khi chính thức là thành viên WTO, Việt Nam đã tận dụng các cơ hội và đối mặt với những thách thức đó như thế nào? Và các giải pháp để khắc phục những vấn đề còn tồn tại, giúp Việt Nam hội nhập toàn diện vào WTO là gì? Đây là những vấn đề mang tính thời sự thu hút sự quan tâm của toàn xã hội.
Thông qua bài tiểu luận mang tên : “ Thực trạng nền nông nghiệp Việt nam trước và sau khi gia nhập WTO ”này, chúng em mong có một cái nhìn tổng hợp nhất về những thành tựu nổi bật và cả những mặt tồn tại, những vấn đề còn gây cản trở cho sự phát triển nền Nông Nghiệp nước nhà trong suốt quá trình trước và sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO để từ đó đề xuất một vài giải pháp.
Tuy chưa thật sự đầy đủ và hoàn thiện nhưng hy vọng bài tiểu luận này sẽ có một cái nhìn bao quát về sự phát triển Nông Nghiệp Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO.
II.NỘI DUNG:
Đặc điểm của sản xuất Nông Nghiệp:
Nghành sản xuất nông nghiệp có nhiều đặc điểm đa dạng, có thể tóm gọn trong một số đặc điểm chính sau:
Thứ nhất: Đó là một nghành có lịch sử phát triển lâu đời, được coi là nền kinh tế truyền thống. Trong tiếng Pháp, nhắc đến những cái tên như là “ nghành cơ bản ” hay “ nghành ra đời đầu tiên ”, “ secteur premier ”, người ta hiểu đó chính là những khái niệm chỉ nông nghiệp. Từ những hoạt động sơ khai của con người như săn bắn, hái lượm, họ đã phát minh nhu cầu muốn được chăn nuôi và trồng trọt. Nông nghiệp đã ra đời từ những thời điểm đó. Các hoạt động nông nghiệp gắn bó với con người hàng nghìn năm nay, và chính vì lẽ này, cho dù con người có thể áp dụng những máy móc hiện đại, song họ vẵn có thói quen áp dụng những kỹ thuật cũ để trồng trọt cũng như chăn nuôi. Do thế mà việc thay đổi xã hội hay thói quen ở nông thôn là khó hơn so với ở thành thị. Điều này càng đúng so với những nước đang phát triển, ở đó công nghệ chưa đạt đến trình độ cao, chưa phổ biến được sâu rộng nên việc người dân thấy được lời ích của nó là còn khó hơn.
Thứ hai, nông nghiệp là một nghành tạo ra sản phẩm thiết yếu cho con người. Lương thực, thực phẩm; là nhu cầu cơ bản nhất của con người. Cơm ăn còn đứng trước áo mặc. Có thể không cần đến dầu mỏ, vàng, bạc, điện… mà con người vẫn có thể tồn tại, nhưng không thể thiếu thức ăn. Ai cũng phải tiêu dùng lương thực. Và vì thế mà nước nào cũng phải sản xuất lương thực, hay nếu không sản xuất lương thực thì phải xuất khẩu những mặt hàng khác thu ngoại tệ để nhập khẩu lương thực.
Thứ ba, nông nghiệp là nghành phụ thuộc nhiều vào điều kiện khách quan hơn mọi nghành khác. Nó phụ thuộc vào đất đai. Lẽ tự nhiên là hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần đất đai, thường là để xây dựng hệ thống công ty, nhà xưởng, nhà kho, nhưng đối với nông nghiệp đất đai chính là công cụ lao động của họ, đóng vai trò cơ bản, chủ đạo. Trong nông nghiệp, ruộng đất không chỉ là nền móng, là địa bàn trên đó diễn ra quá trình sản xuất như đối với công nghiệp và nhiều lĩnh vực khác, mà còn là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt không thể thay thế được. Ruộng đất là tư liệu sản xuất vì đất vừa là đối tượng lao động vùa là tư liệu lao động. Là tư liệu sản xuất đặc biệt vì ruộng đất không giống với các tư liệu sản xuất khác ở chỗ: giới hạn về số lượng diện tích, không đông nhất về chất lượng giữa các thửa đất , nếu sử dụng hợp lý thì độ phì nhiêu của đất không ngừng tăng lên. Vì vai trò quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp và đặc tính riêng của ruộng đất nên không có tư liệu sản xuất thong thường nào khác có thể thay thế được. Do đó, việc bảo tồn quỹ đất và không ngừng nâng cao độ phì của đất là vấn đề sống còn đối với sản xuất nông nghiệp.
Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến yếu tố thời tiết. Hiệu quả hoạt động của sản xuất nông nghiệp có tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Tuy nhiên trong nông nghiệp, chỉ cần có sự di chuyển về địa lí, đồng nghĩa với việc thời tiết, điều kiện đất đai hay nguồn nước sẵn có bị di chuyển, thì việc sản xuất các loại cây cũng phải khác nhau, hay thậm chí việc sản xuất các loại cây giống nhau cũng phải có những kỹ thuật canh tác khac nhau.
Đặc điểm thứ tư của nông nghiệp chính là tỷ trọng lao động và sản phẩm trong nền kinh tế có xu hướng giảm dần. Xã hội càng phát triển thì số người muốn làm nông dân càng ít. Bởi vì hoạt động nông nghiệp quá không chắc chắn, lại đem lại giá trị không cao bằng với giá trị các sản phẩm dịch vụ khác mang lại, nên nó chỉ được phát triển ở những nước kém phát triển và đang phát triển là điều dễ hiểu.
TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO:
Nông nghiệp Việt Nam trước khi gia nhập WTO không chỉ đứng trước những thách thức to lớn như thiên tai, bão lụt, cháy rừng, dịch bệnh xảy ra liên tiếp trên nhiều vùng trong phạm vi cả nước, gây tổn thất rất lớn về người và tài sản của nhà nước và nhân dân, ảnh h...