Download miễn phí Khóa luận Thương mại điện tử và thực trạng ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
Kể từ khi Internet phát triển ở Việt Nam, trong số các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã có nhiều doanh nghiệp chú ý đến việc quảng bá tên tuổi của mình trên Internet. Số trang web của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng không ngừng tăng lên. Thực tế là một số trang web đã và đang đem lại cơ hội làm ăn, hợp đồng buôn bán và tiện ích trong giao dịch cho một số doanh nghiệp. Trong đó, theo các doanh nghiệp này, lợi ích lớn nhất mà họ thu được là nhờ có Internet, họ có thể giới thiệu các thông tin về doanh nghiệp và sản phẩm của mình đến với khách hàng một cách nhanh chóng và thuận tiện hơn cả, do đó đã thu hút được một số khách hàng đến với doanh nghiệp nhờ thông tin trên các trang web. Điều này được thể hiện qua nhận xét của bản thân các doanh nghiệp về hiệu quả sử dụng trang web của mình, một số ví dụ tiêu biểu có thể kể đến là:
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-11-08-khoa_luan_thuong_mai_dien_tu_va_thuc_trang_ung_dun.JdnV4C5kAq.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-44361/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
động trong lĩnh vực sản xuất và cung cấp dịch vụ phần mềm;- Các doanh nghiệp được hưởng mức ưu đãi cao nhất về thuế giá trị gia tăng;
- Các nguyên liệu phục vụ trực tiếp cho việc sản xuất phần mềm được miễn thuế;
- Các doanh nghiệp được miễn thuế xuất khẩu các sản phẩm phần mềm;
- Thêm vào đó có rất nhiều chính sách ưu đãi về tín dụng, thuê và sử dụng đất, bảo vệ bản quyền phần mềm, đào tạo nguồn nhân lực về phần mềm, ưu đãi về cơ sở hạ tầng Internet và viễn thông v.v.
Các chính sách quan trọng này đã dẫn tới việc ra đời hàng loạt các công ty phần mềm, đặc biệt là 50% trong tổng số các công ty phần mềm được thành lập trong vòng hơn 2,5 năm trở lại đây.
Hình 3. Biểu đồ gia tăng số các công ty sản xuất và dịch vụ phần mềm
Nguồn: Vietnam e-Readiness and e-Needs Assessment Report, 5/2003
Số nhân viên làm việc trong lĩnh vực phần mềm cũng tăng lên nhanh chóng. Hiện tại, tính trung bình, mỗi công ty có khoảng 20 người làm việc về phần mềm. Tổng số người tham gia vào ngành công nghiệp phần mềm ở Việt Nam hiện có khoảng 7.500 người.
Hình 4. Biểu đồ gia tăng số nhân sự làm phần mềm
Nguồn: Vietnam e-Readiness and e-Needs Assessment Report, May 2003
Năng lực sản xuất phần mềm có nhiều biến động theo hướng tăng lên nhưng mức tăng không cao. Năng suất của các công ty gia công phần mềm cho nước ngoài có cao hơn, năm 2002 đạt khoảng 13.000 USD/người/năm, tăng khoảng 18% so với năm 2000.
Hình 5. Biểu đồ gia tăng năng suất làm phần mềm
Nguồn: Vietnam e-Readiness and e-Needs Assessment Report, May 2003
Qua các số liệu trên, ta có thể thấy Nghị quyết 07 và Quyết định 128 đã tao ra sự tăng trưởng ban đầu tốt đẹp trong doanh thu của ngành sản xuất và cung cấp các dịch vụ phần mềm, dẫn tới việc gia tăng số người làm việc trong lĩnh vực phần mềm. Trong hai năm 2000-2001, rất nhiều khu công nghiệp phần mềm tập trung đã được thành lập như công viên phần mềm Quang Trung, khu công nghiệp phần mềm Hải Phòng, khu công nghiệp phần mềm Đà Nẵng... Các khu công nghiệp này đều được hưởng ưu đãi về thuế và đường dây nối mạng Internet. Bên cạnh đó, rất nhiều công ty phần mềm đã phát triển và được cấp chứng nhận chất lượng quốc tế.
Ngày 23/4/2003, Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm, trong kỳ họp thứ ba của Uỷ ban xúc tiến quốc gia về công nghệ thông tin, đã đưa Chương trình về Phần mềm nguồn mở (OSS) vào Dự án quốc gia. Chương trình này đặt ra một số mục tiêu chính rằng đến năm 2005 sẽ thiết lập hệ thống chuẩn về phát triển và ứng dụng OSS, các hiệp hội và cộng đồng OSS sẽ được thành lập, OSS sẽ được giới thiệu đưa vào chương trình giảng dạy của các trường trung học, cao đẳng và đại học... Tổng đầu tư cho Chương trình OSS giai đoạn 2003-2007 là 312 tỷ VND, tương đương 20 triệu USD.
Đ Thị trường phần cứng Việt Nam
Ngày 20/2/2001, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 19/2001/QĐ-TTg về việc đưa sản phẩm máy vi tính vào danh mục sản phẩm công nghiệp quan trọng. Sau đó, Bộ Công nghiệp đã ban hành Thông tư số 4/2001/TT-BCN ngày 6/6/2001 về việc hướng dẫn thi hành quyết định nói trên.
Phần cứng chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng doanh thu của thị trường công nghệ thông tin Việt Nam. Số lượng máy tính lắp ráp trong nước đang tăng lên, năm 2001 chiếm khoảng 80% tổng số máy tính bán ra trên thị trường (49.500 máy tính hoàn chỉnh và khoảng 242.000 màn hình được nhập khẩu). Có thể ước tính số máy tính lắp ráp trong nước sẽ chiếm tỷ lệ tương đối ổn định ở mức 75-80%.
Kim ngạch nhập khẩu có xu hướng giữ ở mức ổn định cho thấy máy tính lắp ráp trong nước đã có những ảnh hưởng lớn đến thị trường công nghệ thông tin Việt Nam (kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2002 là 118 triệu USD, chỉ tăng 8% so với cùng kỳ năm trước). Nhiều thương hiệu máy tính Việt Nam đã được chấp nhận trên thị trường như CMS, Mekong Green, SingPC, VINACom, T&H, Robo...
Hệ điều hành Linux đã được xây dựng và cài đặt trong các máy tính do CMS sản xuất, đã góp phần khẳng định chất lượng cũng như hướng đi trong dài hạn đối với sự hiện diện của máy tính Việt Nam trên thị trường Việt Nam. Khi luật về bản quyền phần mềm có hiệu lực và được thực thi một cách nghiêm túc, việc sử dụng máy tính thương hiệu Việt Nam cùng với hệ điều hành giá rẻ sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành công nghiệp máy tính Việt Nam.
4. Hạ tầng cơ sở nhân lực
Cho tới năm 1980, lực lượng làm công nghệ thông tin (CNTT) ở nước ta chủ yếu là các cán bộ thuộc các ngành toán, lý chuyển sang. Hiện nay trên phạm vi toàn quốc ước tính có khoảng 20.000 cán bộ đang hoạt động trong lĩnh vực CNTT, trong đó có khoảng 2.000 người chuyên làm về phần mềm tin học. Ngoài ra, có khoảng 50.000 người Việt Nam ở nước ngoài đang hoạt động trong lĩnh vực CNTT.
Từ năm 1980, một số trường đại học đã bắt đầu có khoa tin học và cho tới nay hầu hết tất cả các trường đại học đều có khoa tin học và tất cả các sinh viên đều được đào tạo tin học đại cương. Bảy trường lớn ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một vài tỉnh miền Trung đã được Nhà nước hỗ trợ đầu tư cho các khoa CNTT với mục tiêu đào tạo 2000 cử nhân và kỹ sư tin học mỗi năm. Cho tới nay, trung bình mỗi năm có khoảng 3.500 người được đào tạo cơ bản về tin học. Tuy nhiên, nếu tính bình quân đầu người so với Singapore thì nước ta còn kém khoảng 50 lần. Hiện nay, chúng ta vẫn đang thiếu nhân lực về CNTT, số sinh viên tốt nghiệp hàng năm chưa đủ đáp ứng nhu cầu của các tổ chức và doanh nghiệp.
Hoạt động trong lĩnh vực CNTT đòi hỏi số lượng lớn chuyên gia thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau, do vậy việc đào tạo nguồn nhân lực cho thương mại điện tử không chỉ giới hạn ở các khoa và bộ môn tin học của các trường đại học và cao đẳng mà còn ở nhiều nơi và nguồn khác (toán, lý, xây dựng, cơ khí, hoá, quản trị kinh doanh, y học, nông lâm ngư nghiệp, tài chính, ngôn ngữ, địa lý...). Trong khi đó, nguồn nhân lực để tham gia vào phát triển thương mại điện tử của nước ta rất lớn vì nước ta có lực lượng dồi dào sinh viên tốt nghiệp hàng năm ở các chuyên ngành từ các trường đại học. Nếu đào tạo thêm về CNTT và ngoại ngữ cho các đối tượng trên trong một thời gian ngắn, chúng ta sẽ nhanh chóng có một số lượng lớn cán bộ chuyên môn có trình độ đại học phục vụ cho thương mại điện tử. Thêm vào đó, lĩnh vực thương mại điện tử cũng đòi hỏi một số lượng lớn các nhân viên kỹ thuật chỉ cần được đào tạo qua hệ thống các trường cao đẳng và dạy nghề sẽ có khả năng cung cấp thêm cho thương mại điện tử một số lượng lớn các cán bộ cao đẳng, trung cấp và trung cấp kỹ thuật.
Lực lượng làm tin học ở nước ta có một số ưu điểm nổi bật sau:
- Nhiều người thông minh, sắc sảo và sáng tạo, đặc biệt là trong lĩnh vực phần mềm ứng dụng;
- Có khả năng nhận biết và thích ứng nhanh nhạy với các xu hướng phát triển mới của CNTT;
- Cần cù, chịu khó, có khả năng làm việc ngay cả trong những điều kiện rất thiếu thốn, khó khăn, đặc biệt là có khả năn...