candybietyeu

New Member

Download miễn phí Tiểu luận Tình hình dân số Việt Nam





Theo tính toán, dựa vào kết quả Tổng điều tra Dân số và nhà ở (1-4-1999), thì đến năm 2010, số dân Việt Nam là 100 triệu dân, nhưng trong thực tế, có khả năng quy mô dân số này sẽ được khống chế chậm lại 15 năm (vào năm 2025). Sự khống chế thành công tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, bước đầu kiểm soát được việc gia tăng dân số sẽ là cơ sở cho sự ổn định quy mô dân số ở mức khoảng 115 - 120 triệu người vào giữa thế kỷ 21. Việc giảm sinh được vài chục triệu người thật sự là con số có ý nghĩa lớn cho sự phát triển bền vững trong tương lai của đất nước. Kết quả giảm sinh trong thời gian qua đã góp phần tăng GDP bình quân đầu người 1% mỗi năm, tác động quan trọng vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và thành tựu xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân.



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

IỆT NAM
Theo báo cáo Tình hình Dân số Thế giới 2010 của Liên Hiệp Quốc, dân số Việt Nam 2010 là 89 triệu người và sẽ tăng lên 111,7 triệu người vào năm 2050. Việt Nam hiện đứng thứ 14 trong số những nước đông dân nhất thế giới.
Mặc dù hiện có ưu thế về việc có đông người trong độ tuổi lao động, nhưng Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề như dân di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị, mất cân bằng giới tính cũng như nâng cao vai trò của phụ nữ trong xã hội.
Thời kỳ đặc biệt: ‘Dân số vàng’
Việt Nam đang bước vào thời kỳ dân số vàng, tức là tổng số người trong độ tuổi lao động lớn hơn tổng số người phụ thuộc (già và trẻ em), hiện tỷ lệ người trong độ tuổi lao động chiếm hơn 60% dân số, theo phân tích thì bình quân 2 người lao động nuôi 1 người phụ thuộc.
Rõ ràng Việt Nam đang có một cơ hội “vàng” khi sử dụng một lực lượng lao động trẻ dồi dào trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế 2010-2020.
Kế hoạch hóa gia đình là điều cấp thiết trong điều kiện nước nghèo, đất ít như Việt Nam. Sau nhiều năm đẩy mạnh chiến lược Kế hoạch hoá gia đình ‘mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có 1-2 con’, tỷ lệ sinh ở Việt Nam đã giảm mạnh và hiện ở mức sinh thấp 2,11 con/ người mẹ trong độ tuổi sinh đẻ (bằng với mức sinh thay thế).
Tuổi thọ bình quân của người Việt Nam cũng có bước tiến rõ rệt khi tăng lên đến 73,1 tuổi và dự kiến đạt 75 tuổi vào năm 2020.
Ồ ạt ra thành thị
Cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở gần nhất của Việt Nam là vào năm 2009 và được Tổng cục Thống kê công bố chính thức ngày 21 tháng 7 năm nay cho thấy bình quân mỗi năm dân số Việt Nam tăng 952.000 người.
Mặc dù dân thành thị hiện chiếm 30% tổng dân số ở Việt Nam nhưng lại đang tăng nhanh với tốc độ trung bình 3,4%/năm. Khu vực miền Đông Nam Bộ là nơi có mức đô thị hóa cao nhất. Nguyên nhân chính là do thị trường lao động mở rộng.
Mật độ dân số ở Việt Nam, theo Tổng cục Thống kê, có sự phân bố rất chênh lệch và mức gia tăng không đồng đều. Cụ thể khu vực đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc đông nhất trên cả nước (25 triệu người) trong khi vùng Tây nguyên chỉ hơn 5 triệu người. Một số tỉnh như Nam Định, Thanh Hóa... tỉ lệ tăng dân số không đáng kể vì số người di cư vào các tỉnh thành phía Nam (chủ yếu là Thành phố Hồ Chí Minh) để làm ăn sinh sống. Ước tính trong năm năm 2004-2009 có tới 9,1 triệu người di cư.
Những thách thức
Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức.
Có sự khác biệt lớn trong các chỉ số phát triển giữa khu vực đồng bằng châu thổ và các khu vực miền núi. Ví dụ như tỷ lệ bà mẹ tử vong khi sinh nở ở các vùng sâu vùng xa và khu vực người dân tộc ít người còn cao hơn rất nhiều các vùng khác, gần gấp hai lần so với khu vực thành thị.
Tuy được Liên Hiệp Quốc đánh giá là một trong những nước thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDG) thành công nhất nhưng Việt Nam vẫn cần giải quyết vấn đề liên quan tới mục tiêu giảm tỉ lệ tử vong ở bà mẹ khi sinh nở. Hiện tỷ lệ này ở mức 69/100.000. Việt Nam có 5-7 phụ nữ tử vong/ngày liên quan đến thai sản.
Đến nay Việt Nam vẫn là quốc gia “đất chật, người đông”, có quy mô dân số rất lớn, mật độ dân số rất cao (260 người trên 1km2, gần gấp đôi Trung Quốc). Tỉ lệ sinh đẻ ở nông thôn vẫn cao hơn thành thị, dẫn đến nguy cơ tỷ lệ sinh cao có thể tăng trở lại.
Một vấn đề lớn ở Việt Nam là chênh lệch giới tính khi sinh rất cao. Tỷ số chênh lệch giới tính khi sinh đã tăng lên 112 trẻ trai/100 trẻ gái. Nhiều chuyên gia trong và ngoài nước nhận định rằng sự mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh sẽ tác động lên cơ cấu giới tính dân số trong tương lai và chắc chắn dẫn tới hiện tượng thừa nam giới.
Việc di cư từ nông thôn ra thành thị một mặt thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa nhưng mặt khác lại gây áp lực rất lớn lên hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội , nhà ở, môi trường... ở các đô thị lớn. Tình trạng kẹt xe, ô nhiễm đã diễn ra ngày càng nhiều ở Thành phố Hồ Chí Minh (nơi đông dân nhất nước với trên 7,1 triệu người) hay Hà Nội (6,5 triệu người).
Mặc dù nguồn lao động hiện đang dồi dào và được gọi là ‘dân số vàng’ nhưng vấn đề này cũng tạo ra thách thức lớn về việc làm, an sinh xã hội cũng như tỉ lệ lao động qua đào tạo còn thấp. Tổng số người thất nghiệp, thiếu việc làm thường xuyên và thu nhập thấp ở Việt Nam khoảng gần 10%. Dân số Việt Nam tăng nhưng chỉ số phát triển con người (HDI - tổng hợp từ các chỉ số về kinh tế, giáo dục và sức khoẻ) vẫn ở thứ hạng rất thấp so với thế giới (hạng 116).
‘Nâng cao chất lượng dân số’
Việt Nam đã có chương trình mục tiêu quốc gia về Dân số – kế họach hóa gia đình với mục tiêu ‘Nâng cao chất lượng dân số’ cũng như dự thảo chiến lược Dân số và sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2011-2020. Chương trình này bao gồm nâng cao chất lượng dân số; cải thiện sức khoẻ sinh sản; duy trì cơ cấu dân số; quy mô, mật độ dân số và mức sinh... Chiến lược này cũng ưu tiên quan tâm đến người nghèo, vùng sâu vùng xa ở Việt Nam lẫn vấn đề giáo dục cho trẻ em ở miền núi và nông thôn
Việt Nam cần tiếp tục củng cố hệ thống y tế và cải thiện các dịch vụ cấp cứu sản khoa và chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh, nâng cao năng lực và tay nghề cho các nữ hộ sinh, đồng thời thực hiện giáo dục về sinh đẻ an toàn.
Việt Nam “đang đi đúng hướng” trong nỗ lực kiềm chế xu hướng tăng tỷ lệ chênh lệch giới tính. Những biện pháp giảm chênh lệch tỉ số giới tính đã được triển khai ở mười địa phương tại Việt Nam từ cuối năm 2009. Việt Nam cần chú trọng hơn nữa tới việc nâng cao vai trò của phụ nữ và trẻ em gái trong xã hội, nâng cao vị thế và tăng cường các quyền cho họ.
Chất lượng dân số gắn với phát triển kinh tế - xã hội
Cơ hội dân số xuất hiện khi tổng tỷ suất phụ thuộc có xu hướng giảm và nó đạt tới “kỷ nguyên vàng” khi chỉ số này giảm dưới 50%. Nhiều quốc gia trong khu vực đã tận dụng được cơ hội dân số để đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội. Đối với với Việt Nam, chúng ta cần nâng cao nhận thức, tạo môi trường chính sách thuận lợi, tăng cường nghiên cứu để hiện thực hóa khi cơ hội dân số đang diễn ra, đặc biệt là khi “kỷ nguyên vàng” như hiện nay.
Trong những năm qua, với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và đầu tư của Đảng, Nhà nước, sự tham gia trách nhiệm của các cấp, các ngành, sự đồng tình hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân, chương trình DS - KHHGĐ đã đạt được những kết quả quan trọng. Quy mô gia đình chỉ có từ một đến hai con được chấp nhận rộng rãi, tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) đã đạt mức sinh thay thế, công tác DS - KHHGĐ đã g...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác
Tạo bởi Tiêu đề Blog Lượt trả lời Ngày
D Một số giải pháp về vấn đề dân số, liên hệ với tình hình ở địa phương Luận văn Kinh tế 0
R Giáo án địa lý 11 - Bài 9 Nhật bản Tiết 1 Tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh tế Khoa học Tự nhiên 0
N Tình hình hoạt động tại Công ty xây dựng dân dụng Hà Nội Luận văn Kinh tế 0
B Tình hình chăm sóc trẻ em dưới 5 tuổi ở một số dân tộc thuộc Yên Bái Luận văn Sư phạm 0
D ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC THI CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP CHO CÁC HỘ NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Nông Lâm Thủy sản 0
G Khảo sát Luật ngôn ngữ và văn tự thông dụng quốc gia Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ( Có so sánh với tình hình Việt Nam) Văn hóa, Xã hội 0
K Khảo sát tình hình thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc tại vùng Tây Bắc trong những năm gần đây Văn hóa, Xã hội 0
N Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân trong tình hình Văn hóa, Xã hội 0
N Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự (BHTNDS) của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty bảo hiểm Bảo Minh Vĩnh Phúc Tài liệu chưa phân loại 0
E Mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại theo tư tưởng Hồ Chí Minh, liên hệ tình hình Tài liệu chưa phân loại 0

Các chủ đề có liên quan khác

Top