Download miễn phí Đề tài Ứng dụng GIS để xác định địa điểm xây dựng bãi rác ở thành phố Hồ Chí Minh
Ở Việt Nam, công nghệ GIS được du nhập đầu tiên do TS Trần Tiến Sơn và một nhóm lập trình viên chuyển tiếp thành lập vào năm 1990. Vào năm 1991, phiên bản đầu tiên WIN-GIS 1.0 được tung ra với những khái niệm mới về cấu trúc hình thành GIS. WIN-GIS hoạt động rất ổn định với tốc độ nhanh trên máy tinh cá nhân. Trong thời kì này, hầu hết các phần mềm GIS đều có yêu cầu về phần cứng rất phức tạp. WIN-GIS đã mở ra một hướng mới cho vấn đề khảo sát dữ liệu bằng cách xây dựng kỹ thuật nhận dạng hình ảnh và tự động chuyển đổi ảnh quét từ máy scanner sang dạng vector. Đến năm 1992-1996, các phần mềm GIS đã được phát triển không ngừng và áp dụng vào nhiều dự án tầm cỡ quốc tế. Phần mềm này được tham gia vào nhiều cuộc triển lãm tại Châu Âu, Châu Á. Từ năm 1978 – 1998 WIN-GIS được đổi tên thành DO2-GIS và chuyển đổi giao diện theo các ngôn ngữ Pháp, Anh, Tây Ban Nha, .
Cho tới nay, hệ thống này vẫn được tiếp tục phát triển và hoàn thiện dần cùng với sự phát triển của kinh tế, khoa hoc kĩ thuật và nhu cầu của con người. Và bước đầu có những thành công nhất định khi ứng dụng ở Việt Nam.
http://cloud.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-01-21-de_tai_ung_dung_gis_de_xac_dinh_dia_diem_xay_dung.4NHsa2MzML.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-56238/
Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
PHẦN I: KHÁI LƯỢC VỀ GIS VÀ MỘT SỐ ỨNG DỤNG CỦA GISSƠ LƯỢC VỀ GIS
ĐỊNH NGHĨA VỀ GIS:
GIS ( Geography information systems ) – hệ thống thông tin địa lý, đồng thời vừa là kính viễn vọng, kính hiểm vi, vừa là máy photocopy trong việc phân tích và tổng hợp dữ liệu không gian của một khu vực.( GISs are simultaneously the telescope, the microscope, the computer, and the Xerox, and machine of regional analysis and synthesis of spatial data. Ron Abler, 1988 ) đây là định nghĩa cơ bản nhất của GIS.
Cũng có một số định nghĩa khác nhau như:
- “ GIS là tập hợp đa dạng các công cụ dùng để thu thập, lưu trữ truy cập, biến đổi và thể hiện dữ liệu không gian ghi nhận được từ thế giới thực”
( Burroughs – 1996 ).
-“ GIS là hệ thống ủng hộ lập quyết định có chức năng tích hợp dữ liệu không gian và giải quyết các vấn đề thực tiễn” ( Cowen – 1988 )
Từ các định nghĩa đó chúng ta thấy có một định nghĩa sau đây được sử dụng nhiều: “ GIS là hệ thống các công cụ nền máy tính dùng lưu trữ , truy cập và biến đổi, phân tích và biểu hiện dữ liệu liên quan đến vị trí trên bề mặt trái đất và tích hợp thông tin này vào quá trình lập quyết định” Theo Trần Trọng Đức, GIS căn bản, NXB Đại học Quốc Gia TP. HỒ CHÍ MINH
.
1.2. Thành phần của GIS: GIS gồm 5 thành phần chính:
1.2.1. Phần cứng: Máy tính được kết nối với các đơn vị lưu trữ dữ liệu và các chương trình máy tính.
1.2.2. Phần mềm: Gồm 5 phần cơ bản:
+ Nhập và kiểm chứng dữ liệu: chuyển dữ liệu dạng bản đồ, quan sát thực địa, dữ liệu từ thiết bị giám sát thành dạng số tương ứng.
+ Lưu trữ và xử lý dữ liệu: liên quan đến lưu trữ vị trí, topology và thuộc tính của các đối tượng.
+ Xuất và xử lý dữ liệu: Xuất dữ liệu, giải quyết các dữ liệu được thực hiện và kết quả phân tích được, sau đó báo cáo cho người sử dụng. Dữ liệu có thể được biểu hiện trên máy tính, trên giấy, trên bản đồ….
+ Biến đổi dữ liệu: gồm có hai nhóm, nhóm một dùng để loại trừ sai số dữ liệu, cập nhật dữ liệu, hay ghép chúng lại với các dữ liệu khác, nhóm 2 là nhóm phương pháp phân tích áp dụng vào dữ liệu để trả lời các câu hỏi đặt ra cho GIS.
+ Giao tiếp với người sử dụng bằng tiếng Anh hay hệ thống các mệnh lệnh điều khiển sử dụng cursor máy hay kết hợp menu.
1.2.3. Phần ứng dụng: Trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống.
1.2.4. Phần dữ liệu: gồm các dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính.
1.2.5. Phần con người: nguồn nhân lực được xem như yếu tố hàng đầu không chỉ trong GIS mà trong tất cả các ngành.
1.3. Quá trình hình thành và phát triển của GIS:
1.3.1. Trên thế giới:
Tính có ích của không gian được thừa nhận từ rất sớm và các bản đồ ứng dụng thông tin không gian trở thành một bộ phận không thể thiếu của quá trình quy hoạch và lập quyết định. Với sự đa dạng trong các loại bản đồ thể hiện các đối tượng khác nhau trên bề mặt Trái Đất, các nhà quy hoạch nhận thức được sự cần thiết trong xử lý đồng thời nhiều bản đồ hơn một bản đồ.
Năm 1963, Charles Colby trình bày một báo cáo nêu lên sự cấn thiết và pháp họa các phương pháp lượng hóa trong giải quyết vấn đề bản đồ. Những năm 1960-1970, khuynh hướng xử lý và xử dụng dữ liệu không gian trong đánh giá, quy hoạch và giám sát phát triển nổi trội. Đến năm 1962, hệ thống thông tin địa lý được phát triển và bắt đầu ứng dụng tại Canada, chủ yếu là dùng để lưu trữ dữ liệu và các thuộc tính các thuộc tính thửa đất có liên quan, điều tra và quản lý môi trường. Đầu năm 1970 một sản phẩm của trường Đại học Harvard ( Hoa Kỳ) đã sử dụng máy tính trong việc thành lập và khởi đầu với sự ra đời của Synap. Bắt đầu từ đó đã có nhiều phương pháp xử lý bản đồ một cách tự động được phát triển.
Tuy nhiên, các mô hình đồ họa cổ điển đã không còn chính xác và trở nên lỗi thời làm cho xử lý thông tin bản đồ gặp nhiều khó khăn nhất là xử lý đồng thời dữ liệu thuộc tính và dữ liệu không gian. Điều đó là động lực dẫn đến sự phát triển của các phương pháp và kỹ thuật xử lý tổng hợp thông tin nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác quy hoạch và ra quyết định.
1.3.2. Ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, công nghệ GIS được du nhập đầu tiên do TS Trần Tiến Sơn và một nhóm lập trình viên chuyển tiếp thành lập vào năm 1990. Vào năm 1991, phiên bản đầu tiên WIN-GIS 1.0 được tung ra với những khái niệm mới về cấu trúc hình thành GIS. WIN-GIS hoạt động rất ổn định với tốc độ nhanh trên máy tinh cá nhân. Trong thời kì này, hầu hết các phần mềm GIS đều có yêu cầu về phần cứng rất phức tạp. WIN-GIS đã mở ra một hướng mới cho vấn đề khảo sát dữ liệu bằng cách xây dựng kỹ thuật nhận dạng hình ảnh và tự động chuyển đổi ảnh quét từ máy scanner sang dạng vector. Đến năm 1992-1996, các phần mềm GIS đã được phát triển không ngừng và áp dụng vào nhiều dự án tầm cỡ quốc tế. Phần mềm này được tham gia vào nhiều cuộc triển lãm tại Châu Âu, Châu Á. Từ năm 1978 – 1998 WIN-GIS được đổi tên thành DO2-GIS và chuyển đổi giao diện theo các ngôn ngữ Pháp, Anh, Tây Ban Nha,….
Cho tới nay, hệ thống này vẫn được tiếp tục phát triển và hoàn thiện dần cùng với sự phát triển của kinh tế, khoa hoc kĩ thuật và nhu cầu của con người. Và bước đầu có những thành công nhất định khi ứng dụng ở Việt Nam.
2. ỨNG DỤNG CỦA GIS:
1.2 Giới thiệu chung:
Từ khi ra đời tới nay, GIS đã được ứng dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trên thế giới vì GIS được thiết kế nhu một hệ thống chung để quản lý dữ liệu không gian. Trong các lĩnh vực đó GIS phần lớn đóng vai trò như một công cụ hỗ trợ quyết định cho việc lập kế hoạch hoạt động. Nó có mặt ở hầu hết các lĩnh vực khoa học công nghệ, đời sống xã hội từ những thập niên 70 và phổ biến trên thế giới trong khoảng 30 năm trở lại đây.
2.2. Các lĩnh vực ứng dụng GIS:
Ü Lập chính sách, quy hoạch, quản lý thành phố.
Ü Khoa học môi trường.
Ü Kỹ thuật công chánh
Ü Hành chính giáo dục
Ü Y tế
PHẦN II: ỨNG DỤNG GIS XÁC ĐỊNH ĐỊA ĐIỂM XÂY DỰNG BÃI RÁC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1.1. Lý do chọn đề tài:
Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay cùng với sự chuyển mình của đất nước thì ngày càng thu hút một nhiều lao động từ các nơi khác tới. Công nghiệp ngày càng phát triển và mật độ dân số ngày càng cao. Môi trường bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng như: ô nhiễm nguồn nước sông ngòi, ô nhiễm mạch nước ngầm, ô nhiễm bầu không khí,…Mà nguyên nhân lớn dẫn đến ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi cũng như ở Tp HCM là rác thải. Dân số Tp HCM rất đông lượng rác thải hàng ngày từ các khu công nghiệp, các khu dân cư thải ra môi trường là rất lớn, đặc biệt là có những loại rác gây độc hại cao (rác thải y tế). Nếu không có biện pháp thu gom, vận chuyển và xử lí đúng cách sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, sinh ra nhiều căn bệnh, dịch bệnh mới mà ghánh chịu hậu quả trực tiếp không ai khác chính là con người. Nhưng việc xử lý, thu gom khoảng 4000 tấn rác hằng ngày của Tp HCM đã và đang là bài toán hóc b...