tranhientram

New Member

Download miễn phí Luận văn Việc làm của người có đất bị thu hồi để phát triển công nghiệp ở tỉnh Nghệ An





MỤC LỤC
 
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ Lí LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI CÓ ĐẤT BỊ THU HỒI ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 7
1.1. Đất cho phát triển công nghiệp và sự cần thiết phải thu hồi đất để phát triển công nghiệp
7
1.2. Nội dung giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi để phát triển công nghiệp 14
1.3. Kinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố trong giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi
23
Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN CÓ ĐẤT BỊ THU HỒI ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NGHỆ AN TỪ NĂM 2001-2007 33
2.1. Vị trớ của Nghệ An và tỡnh hỡnh thu hồi đất để phát triển công nghiệp trên địa bàn 33
2.2. Tỡnh hỡnh giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi 47
2.3. Những vấn đề đặt ra trong giải quyết việc làm của người có đất bị thu hồi ở Nghệ An hiện nay.
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI CÓ ĐẤT BỊ THU HỒI ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NGHỆ AN THỜI GIAN TỚI 80
3.1. Dự báo nhu cầu và phương hướng giải quyết việc làm cho người lao động có đất bị thu hồi ở tỉnh Nghệ An đến năm 2020 80
3.2. Giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi để phát triển công nghiệp ở tỉnh Nghệ An thời gian tới 90
KẾT LUẬN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHỤ LỤC 118
 
 
 



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

rở lên (đối với đất trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản), 24 tháng trở lên (đối với đất rừng) hay 18 tháng trở lên (đối với đất trồng cây lâu năm) khi Nhà nước thu hồi thì không được bồi thường về đất, nhưng được hỗ trợ như sau:
+ Hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất là cán bộ, công nhân viên của nông lâm trường đang làm việc; Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp: Hỗ trợ bằng 25% giá đất bồi thường tính theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp quy định.
+ Hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất là cán bộ, công nhân viên của nông lâm trường nghỉ thôi việc được hưởng trợ cấp hàng tháng: Hỗ trợ bằng 20% giá đất bồi thường tính theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp quy định.
+ Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đất là cán bộ, công nhân viên của nông lâm trường đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động: Hỗ trợ bằng 15% giá đất bồi thường tính theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp quy định.
+ Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản của các nông, lâm trường không thuộc các đối tượng quy định trên đây chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi toàn bộ đất ở hay trên 30% diện tích đất nông nghiệp được giao (hay giao khoán) ổn định, hiện có mức sống thuộc diện hộ cùng kiệt theo tiêu chí hộ cùng kiệt do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội công bố trong từng thời kỳ có xác nhận của phòng Thương binh xã hội cấp huyện thì ngoài các chính sách chung về ưu đãi đối với hộ bị thu hồi đất và chính sách đối với hộ nghèo, còn được hỗ trợ để vượt qua hộ cùng kiệt tính theo nhân khẩu hiện có. Mức cụ thể như sau: hộ cùng kiệt tại đô thị: 3.600.000đ/khẩu; hộ cùng kiệt tại nông thôn: 5.760.000đ/khẩu
Gần đây, ngày 08/01/2008 UBND tỉnh ban hành Quyết định số 03/2008/QĐ-UBND về ban hành đơn giá xây dựng nhà và vật kiến trúc trên địa bàn tỉnh Nghệ An làm cơ sở xác định giá trị bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất.
Các chủ trương, chính sách trên được hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh như đài phát thanh, đài truyền thanh, đài truyền hình, các báo… đã liên tục thông tin; các cấp ủy và chính quyền thành phố và huyện đã chỉ đạo chặt chẽ các chi bộ, đảng bộ tăng cường công tác giáo dục tư tưởng để mọi người dân nhận thức sâu sắc về công tác giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi của tỉnh, của địa phương.
2.2.2. Tình hình triển khai thực hiện chủ trương, chính sách giải quyết việc làm ở Nghệ An
Trên cơ sở các chủ trương và chính sách giải quyết việc làm đã ban hành, các cơ quan chức năng của tỉnh đã xây dựng các biện pháp cụ thể, tổ chức triển khai các biện pháp đó trong thực tiễn.
- Thực trạng giải quyết việc làm qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh:
+ Giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi thông qua Chương trình phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. Tỉnh Nghệ An đã chỉ đạo tập trung thâm canh đất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng năng suất, chất lượng, hiệu quả. Với sự đầu tư đúng hướng trong nông nghiệp, bước đầu tỉnh đã hình thành được một số trang trại sản xuất rau an toàn, vùng sản xuất nông sản tập trung, chuyển đổi cây có hiệu quả thấp sang cây có hiệu quả cao hay chuyển đổi thành vùng nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi theo mô hình CN tập trung. Nhờ chương trình phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, mà giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản trong 5 năm (2001 - 2005) đã từ 5.478.814 triệu đồng tăng lên 9.068.055 triệu đồng, gấp gần 1,7 lần trong thời gian 5 năm, riêng giá trị nuôi trồng thủy sản tăng gần 2 lần. Những năm qua diện tích vụ Đông liên tiếp được mở rộng và đạt giá trị ngày càng lớn. Diện tích lúa hiện chỉ còn 67.254 ha, giảm gần 7.000 ha. Năng suất lúa đạt 120 tạ/ ha/ năm. Sản lượng lương thực bình quân đầu người đạt 477 kg/ năm. Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất nông nghiệp đạt 37,7 triệu đồng, gần 20% diện tích đất nông nghiệp đạt giá trị sản xuất trên 50 triệu đồng/ ha. Từng bước hình thành và nhân rộng một số mô hình sản xuất trang trại, vùng sản xuất nông sản tập trung đạt giá trị cao từ 70 - 100 triệu đồng/ ha. Mở rộng diện tích trồng rau màu, chuyển đổi mạnh diện tích cấy lúa năng suất, hiệu quả thấp sang trồng cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản cho giá trị kinh tế cao hơn. Những năm qua, giá trị sản xuất chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản tăng 14,1%/ năm. Tỉnh đã hình thành được một số mô hình chăn nuôi theo quy mô công nghiệp, bán công nghiệp. Để thực hiện chương trình phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, hệ thống khuyến nông được thành lập từ tỉnh đến huyện và luôn luôn được tăng cường cả về số lượng và chất lượng.
+ Giải quyết việc làm qua chương trình phát triển CN, tiểu thủ CN và xây dựng kết cấu hạ tầng. Đây là một nội dung rất quan trọng trong giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất và đóng vai trò quyết định đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong quá trình phát triển CN ở Nghệ An.
Từ năm 2001 đến nay, do tăng nhanh nguồn vốn huy động vào xây dựng kết cấu hạ tầng, hỗ trợ đầu tư phát triển, nên sản xuất CN, tiểu thủ CN của tỉnh đã phát triển với tốc độ cao. Chỉ riêng 3 năm (2001-2003), giá trị sản xuất CN từ 1.951.136 triệu đồng tăng lên 3.308.587, gấp 1,7 lần, trong đó CN ngoài nhà nước (không kể doanh nghiệp CN có vốn đầu tư nước ngoài) từ 651.397 tăng lên 1.346.111 triệu đồng, tức là tăng 106,6% trong vòng 3 năm. Cơ cấu ngành nghề chuyển dịch nhanh theo hướng tăng ngành nghề, thu hút nhiều lao động như: may mặc, giày dép, chế biến lương thực, thực phẩm. Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh. Năm 2003, toàn tỉnh có 29.454 cơ sở sản xuất CN thu hút 78.620 lao động.
Quỹ khuyến công của tỉnh được thành lập tháng 9/2002 đã có những hoạt động tích cực trong việc thúc đẩy phát triển các cơ sở CN, nhất là các cơ sở sản xuất tiểu thủ CN trên địa bàn. Toàn tỉnh đã khôi phục và thành lập mới được 117 làng nghề, trong đó có 8 mô hình: làng nghề chế biến mộc dân dụng và mỹ nghệ, làng mây tre đan, làng dệt thổ cẩm, làng đóng mới và sửa chữa tàu thuyền vỏ gỗ ở các huyện Nghĩa Đàn, Nghi Lộc, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Con Cuông, Thanh Chương, Quế Phong. Những địa phương có nhiều làng nghề đăng ký xây dựng là: Diễn Châu (6 làng), Quỳnh Lưu (8 làng), Nghi Lộc (6 làng). Nghề sản xuất - kinh doanh được đăng ký nhiều là: mây tre đan (20 làng), chế biến hải sản (5 làng), dệt thổ cẩm (5 làng), ươm tơ dệt lụa (5 làng). Đến nay, toàn tỉnh đã có 46 làng nghề đủ tiêu chí thro quy định. Có làng nghề như Trung Kiên, Ngh...
 

Kiến thức bôn ba

Các chủ đề có liên quan khác
Tạo bởi Tiêu đề Blog Lượt trả lời Ngày
D Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất làm việc từ xa của nhân viên văn phòng tại Tp. HCM Văn hóa, Xã hội 0
N Nhờ tải giúp em Thực trạng và các yếu tố tác động đến việc làm thêm của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (Luận văn thạc sĩ) - Phan Thị ThuThảo Khởi đầu 3
D Đánh giá tác động của chính sách thời giờ làm việc – thời gian nghỉ ngơi theo quy định Luận văn Kinh tế 0
D Tác động của việc tham gia các hoạt động tình nguyện đối với sự hình thành kỹ năng giao tiếp và kỹ năng làm việc nhóm của sinh viên trường đại học Văn hóa, Xã hội 0
D Thực trạng và giải pháp nâng cao kỹ năng làm việc nhóm của sinh viên khoa Marketing Luận văn Kinh tế 0
N Nghiên cứu tìm hiểu nguyên tắc làm việc của máy fax và các thuật toán nén ứng dụng trong máy fax Luận văn Kinh tế 0
B Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay giải quyết việc làm của NHCSXH chi nhánh Hà Nội Luận văn Kinh tế 0
C Giải pháp tạo việc làm cho người lao động của huyện Hải Hà trong thời gian tới Luận văn Kinh tế 0
D Lao động và việc làm của thị xã Cẩm Phả: Thực trạng và giải pháp giai đoạn 2006- 2011 Luận văn Kinh tế 0
R Đánh giá điều kiện công trình văn phòng làm việc và dịch vụ cho thuê của công ty San Nam Quận Cầu Giấy - TP Hà Nội Luận văn Kinh tế 0

Các chủ đề có liên quan khác

Top